CHƯƠNG 4: ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC LOÀI
Tóm tắt: Rất khó để lý giải giống như phân tích bệnh lý lâm sàng ở người, nó thì rất phức tạp khi đánh giá ở nhiều loài. Chẩn đoán bệnh lý lâm sàng nói chung tương tự giữa các loài nhưng cần cân nhắc sự khác biệt đặc trưng của mỗi loài để tránh chẩn đoán sai. Ví dụ, chim có tế bào hồng cầu có nhân nhưng động vật có vú thì không. Việc các tế bào hồng cầu giống với một đồng tiền xu (rouleaux) ở mèo, chó, chuột lang và thỏ là điều bình thường, nhưng đây là dấu hiệu của bệnh ở các loài khác. Tế bào bạch cầu ở chuột, bạch cầu lympho và bạch cầu ái toan có thể cao gấp ba lần vào buổi sáng so với buổi tối. Alkaline phosphatase là một chỉ số chẩn đoán tốt về ứ mật ngoại trừ ở mèo. Dùng tay đè chuột trong khi lấy mẫu có thể gây tăng protein huyết tương, calcium và magnesium; và giảm pH máu và glucose. Nước tiểu của mèo khỏe mạnh có xu hướng vẩn đục. Nước tiểu thỏ có xu hướng cơ bản, đục và có khối lượng lớn vì thỏ không cô đặc nước tiểu của chúng như các động vật khác. Chỉ bằng cách hiểu đặc thù của một loài nhất định, người ta mới có thể tránh khỏi chẩn đoán những điều bình thường thành bất thường. Chương này cung cấp thông tin cụ thể cho các loài thường gặp nhất trong các nghiên cứu độc học.
4.1 Loài chim

Huyết học: Chim có số lượng hồng cầu thấp và tổng bạch cầu cao hơn động vật có vú. Tế bào hồng cầu có nhân, và điển hình là hình elip và hai mặt lồi, ở chim khỏe mạnh 10% trong số chúng là hồng cầu lưới. Gà con có hồng cầu thấp, nhưng chúng đạt đến lượng hồng cầu ở gà trưởng thành chỉ trong vòng một tuần. Tế bào lympho là số lượng bạch cầu nhiều nhất. Basophils thì phổ biến, đặc biệt là ở gà lôi. Tất cả các quá trình tạo máu xảy ra trong tủy xương nhưng các tế bào lympho B biệt hóa trong túi bursa của Fabricius, nằm gần lỗ huyệt. Động vật có vú không có cơ quan tương tự như túi bursa. Số lượng huyết khối thấp hơn một chút ở con trưởng thành, đặc biệt là ở giống đực. Tốc độ đông máu ở chim và động vật có vú là tương tự nhau. Huyết khối có nhân và chức năng tương tự như tế bào ở động vật có vú, mặc dù chúng có khả năng thực bào. Huyết khối không bao giờ được gọi là tiểu cầu. Chim thiếu yếu tố đông máu XI và XII. Sự đông máu chủ yếu dựa vào các con đường ngoại sinh. Heterophils (tương đương với bạch cầu trung tính) và bạch cầu ái toan trông giống nhau, và tế bào lympho, bạch cầu đơn nhân và huyết khối trông giống nhau.
Đếm hồng cầu bằng máy tự động rất phức tạp bởi sự có mặt của nhân hồng cầu. Các phép đo định lượng huyết sắc tố sẽ bị tăng giả vì sự tán xạ ánh sáng của nhân hồng cầu trừ khi hỗn hợp máu thuốc thử được ly tâm. U tế bào gốc tạo máu là phổ biến ở chim. Không thể rút trích tủy xương khi chim còn sống.
Hóa học lâm sàng: Alkaline Phosphatase (ALP) tăng do bệnh gan ở chim ăn thịt nhưng không phải ở chim ăn thực vật.
4.2 Loài mèo

Huyết học: Mèo đực và mèo cái có giá trị tương tự nhau. Số lượng hồng cầu và lượng huyết sắc tố thấp hơn, số lượng hồng cầu lưới cao hơn ở mèo con dưới 3 tháng tuổi. Các hồng cầu nhân được tìm thấy ở mèo con (<12 tuần tuổi), nhưng hiếm khi ở mèo trưởng thành (trừ những con bị rối loạn tủy). HCT và Hb giảm trong những tháng sơ sinh và dẫn đến hội chứng hồng cầu nhỏ. RBCs, HCT và Hb sẽ tăng dần đến khi thú trưởng thành. Số lượng hồng cầu lưới rất thấp ngoại trừ trong quá trình phục hồi sau thiếu máu do mất máu. RBCs, HCT và Hb giảm ở cuối thai kỳ, sau đó nhanh chóng hồi phục sau sinh. Tế bào hồng cầu có xu hướng khác nhau về kích thước, và chúng trở nên nhỏ hơn và nhiều hơn theo tuổi. Đường kính hồng cầu dao động từ 5,4 đến 6,5 µm và sự hình thành kết dính (rouleaux) là phổ biến. Bất thường ở hình dạng hồng cầu (poikilocytosis) thì phổ biến trong các giai đoạn bệnh, chẳng hạn như rò rỉ tế bào gây ra bởi sự oxy hóa do chấn thương. Thể Heinz và thể Howell Jolly có thể được nhìn thấy với số lượng nhỏ.
Số lượng WBC có độ biến thiên rất rộng vì số lượng bạch cầu ở ngoại vi có thể tăng gấp 3 lần số bạch cầu trong hệ tuần hoàn. Bạch cầu trung tính là số lượng bạch cầu nhiều nhất. Bạch cầu trung tính non và bạch cầu ưa bazo rất hiếm ở mèo khỏe mạnh, và hậu tủy bào (metamyelocytes) không bao giờ được tìm thấy. Bạch cầu ái toan có hạt hình que. Số lượng bạch cầu và bạch cầu đơn nhân thấp hơn ở mèo con dưới 3 tháng tuổi.
Kích thích (chẳng hạn như trong quá trình lấy máu tĩnh mạch) kích thích sự co thắt lách và giải phóng hồng cầu và tiểu cầu. Sự hãi, e ngại, giận dữ và hoạt động cơ bắp gây ra sự gia tăng bạch cầu trung tính và tế bào lympho. Do sự khác biệt trong việc lấy máu, đông máu có thể gây trở ngại cho việc phân tích, đặc biệt là với các máy đếm điện tử. Crenation là một vấn đề phổ biến. Ký sinh trùng H.Felis gây ra bệnh thiếu máu truyền nhiễm ở mèo, sau đó là thiếu máu tán huyết hồng cầu lớn (macrocytic) và hồng cầu có thể mất hình dạng, hai đầu lồi bình thường và trở thành hình tròn hoặc hình chén (spherocytes or stomatospherocytes). Điều trị ACTH và corticosteroid làm cho số lượng bạch cầu trung tính và bạch cầu đơn nhân tăng lên, và số lượng tế bào lympho và bạch cầu ái toan giảm.
Hóa học lâm sàng: Sự phấn khích có thể ảnh hưởng đáng kể đến các giá trị hóa học ở một con mèo theo thời gian. Tuổi tác và giới tính ít ảnh hưởng. Tổng lượng protein huyết tương tăng ở mèo già, chủ yếu là do tăng gamma globulin. Alkaline Phosphatase là không đặc hiệu cho chẩn đoán ứ mật ở mèo. Thời gian bán hủy của alkaline phosphatase isoenzyme gan là khoảng 10% so với chó.
Xét nghiệm nước tiểu: Nước tiểu mèo có xu hướng acid. Bilirubin niệu rất hiếm ở mèo. Nước tiểu của mèo khỏe có xu hướng bị đục do các giọt lipid.
4.3 Loài chó

Huyết học: Giá trị đực và cái là tương tự nhau. Số lượng hồng cầu, HCT và Hb giảm trong những tháng sơ sinh, nhưng sau đó
tăng dần đến mức trưởng thành. Tế bào hồng cầu có xu hướng thay đổi nhiều kích thước và chúng trở nên nhỏ hơn và nhiều hơn theo tuổi. Đường kính hồng cầu dao động từ 6,9 đến 7,3 µm. Chứng hồng cầu lớn (Macrocytosis) là phổ biến trong dòng poodle. Một số hình thành hồng cầu kết dính (rouleaux) xảy ra ở chó. Hình dạng hồng cầu bất thường (poikilocytosis) là phổ biến trong tình trạng bệnh. Hồng cầu lưới <3% (ngoại trừ ở chó con) và tế bào hồng cầu có nhân rất hiếm. Sợ hãi, chẳng hạn như trong quá trình lấy máu tĩnh mạch, có thể gây ra co thắt lách mang lại sự gia tăng đáng kể về hồng cầu (erythrocytosis). Nồng độ huyết sắc tố được tăng lên nhờ chế độ ăn uống có chứa B-complex và các yếu tố tạo máu khác. Chó đang phát triển có mức fibrinogen thấp, và do đó sẽ có giá trị ESR (độ lắng hồng cầu) được điều chỉnh âm tính.
Tổng bạch cầu giảm theo tuổi tác (do số lượng tế bào lympho giảm) và chúng dao động do ảnh hưởng của thời gian, mùa và sinh lý. Số lượng bạch cầu trung tính vẫn không đổi và số lượng bạch cầu ái toan tăng phần nào trong suốt cuộc đời. Số lượng bạch cầu đạt cực đại khi mang thai. Có sự khác biệt lớn về số lượng bạch cầu giữa các giống. Bạch cầu trung tính là số lượng bạch cầu nhiều nhất (cao gấp ba đến năm lần so với tế bào lympho). Bạch cầu trung tính non có số lượng nhỏ và metamyelocytes không bao giờ được tìm thấy trong máu của những con chó khỏe mạnh. Bạch cầu đơn nhân có thể dễ dàng bị nhầm lẫn với bạch cầu trung tính, nhưng tế bào chất của chúng nhuộm màu hơi xanh.
Nhiễm vi khuẩn có thể làm trẻ hóa bạch cầu trung tính được thấy bởi sự giải phóng bạch cầu trung tính non, metamyelocytes và thậm chí giảm các tế bào trưởng thành. Bạch cầu trung tính già (tăng bạch cầu trung tính nhiều thùy) xảy ra để đáp ứng với điều trị bằng corticosteroid. Số lượng tế bào lympho bị suy giảm trong bệnh care. Bạch cầu ưa bazo rất hiếm thấy ở những con chó khỏe mạnh. Bạch cầu ưa acid tăng trong nhiễm ký sinh trùng (ví dụ, giun móc). Điều trị ACTH và corticosteroid làm cho số lượng bạch cầu trung tính và bạch cầu đơn nhân tăng lên, và số lượng tế bào lympho và bạch cầu ái toan giảm.
Hóa học lâm sàng: Không có sự khác biệt đáng kể về giới tính. Các phép đo bilirubin ở chó là không đáng tin cậy, ngoại trừ trong trường hợp tắc nghẽn ống mật với chức năng thận giảm và tắc nghẽn ống mật kéo dài. So với chó trưởng thành, chó 6 tháng đến 2 tuổi sẽ tăng tổng protein, albumin và globulin và giảm mức độ transaminase (ALT và AST). Alkaline Phosphatase tăng nhẹ trong hoại tử tế bào gan cấp tính, trong khi ALT và sorbitol dehydrogenase (SDH) tăng rõ rệt. Alkaline Phosphatase tăng rõ rệt trong tắc nghẽn đường mật. Áp suất bán phần tĩnh mạch CO₂ (pCO₂) tăng từ 1 đến 3 năm tuổi. Chó già có giá trị glucose và bilirubin tăng, và giảm giá trị nitơ urê máu. Beagles và một số chủng khác có xu hướng bị thiếu yếu tố VII - và có thể có thời gian đông máu kéo dài. Tăng thời gian đông máu ở những con chó này không nên được sử dụng như một thước đo chức năng gan. Tăng calci máu được nhìn thấy ở những con chó trẻ bị suy thận. Do chó đốm không có khả năng chuyển hóa acid uric trong gan, chúng có thể bị tăng acid uric máu (tăng acid uric trong huyết thanh) và chúng dễ bị bệnh gout và sỏi acid uric ở thận và bàng quang.
Xét nghiệm nước tiểu: Nước tiểu chó thì nhiều và có xu hướng acid. Lượng nhỏ Billirubin niệu là bình thường.
4.4 Chuột lang

Huyết học: Chuột lang có các biến đổi đáng kể dựa theo giới tính, tình trạng thái căng thẳng, thời gian trong ngày và chế độ ăn uống. Con đực có số lượng hồng cầu cao hơn con cái. Chuột lang có đường kính hồng cầu lớn nhất ở động vật được dùng trong các thí nghiệm thông thường (7,5µm), và hình thành một số biến đổi về kích thước hồng cầu, nhiều hồng cầu nhỏ, hồng cầu nhược sắc lớn, và hồng cầu dính kết. Số lượng hồng cầu, HCT và Hb đạt cực đại lúc 4 tháng tuổi, sau đó giảm xuống khi trưởng thành. Hồng cầu lưới giảm sau 2 tháng tuổi, nhưng tăng sự tạo máu để giảm thiểu máu, cùng với nhiều kích thước hồng cầu, hồng cầu lớn nhược sắc, hồng cầu nhân và thể Howell Jolly.
WBC tăng theo tuổi trong năm đầu tiên. Bạch cầu trung tính đôi khi được gọi là heterophils hoặc bạch cầu ưa acid giả. Basophils rất hiếm và đặc biệt. Tế bào lympho là số lượng bạch cầu nhiều nhất và có nhiều tế bào lympho nhỏ hơn so với tế bào lớn. Có đến 4% tế bào lympho là tế bào Kurloff, có chứa một hoặc nhiều thể vùi tế bào chất gọi là thể Kurloff rất giàu mucopolysacarit trung tính. Các tế bào Kurloff, chỉ được tìm thấy ở chuột lang và đặc biệt là ở con cái đang mang thai, có thể hoạt động như các tế bào natural killer. Số lượng tiểu cầu không bị ảnh hưởng bởi tuổi tác hoặc giới tính. Tỷ lệ M:E lớn hơn 1.
Hóa học lâm sàng: Chuột lang phải có vitamin C trong chế độ ăn uống để ngăn ngừa chứng giảm vitamin C (bệnh scurvy), có thể ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa carbohydrate, cholesterol và acid amin. Ketosis xảy ra do mang thai, nhiễm độc máu, béo phì và căng thẳng, và thường gây tử vong. Tổng số protein huyết tương đạt cực đại sau 4 đến 6 tháng tuổi, sau đó giảm xuống khi trưởng thành.
Xét nghiệm nước tiểu: Ketosis xảy ra do mang thai, nhiễm độc máu, béo phì và căng thẳng, và thường gây tử vong.
4.5 Hamsters

Huyết học: Sự khác biệt giới tính không được tìm thấy ở hamsters. Huyết sắc tố tăng cao ở con non và con trưởng thành đang đói. Hồng cầu lưới là phổ biến, và tăng đáng kể sau khi mất máu. Hồng cầu lưới và hồng cầu đa nhân là phổ biến. Hồng cầu hạt rất hiếm ở con trưởng thành, nhưng phổ biến ở con non. Lượng bạch cầu đếm được cực đại về đêm khi hamsters hoạt động mạnh nhất. Bạch cầu trung tính thường được gọi là dị thể. Tế bào lympho là số lượng bạch cầu nhiều nhất và có nhiều tế bào lympho nhỏ hơn so với tế bào lớn. Basophils và eosinophils là rất hiếm. M:E tỷ lệ là > 1.
Trong thời gian ngủ đông, lượng máu, hồng cầu, HCT và Hb tăng, bạch cầu (chủ yếu là tế bào lympho) và số lượng tiểu cầu giảm, số lượng bạch cầu trung tính và tế bào lympho bằng nhau, và quá trình tạo máu bị ức chế.
Hóa học lâm sàng: Khi lấy máu từ tĩnh mạch đuôi, xoa bóp đuôi sẽ gây ra sự pha loãng với dịch mô có thể ảnh hưởng đáng kể đến hầu hết các thông số bệnh lý lâm sàng.
4.6 Chuột nhà

Huyết học: Các giá trị tương tự cho cả hai giới tính, nhưng có sự khác biệt đáng kể giữa các chủng và vị trí lấy máu. Các hồng cầu, HCT, Hb và WBC tăng trong những tháng đầu đời, sau đó giảm xuống mức trưởng thành. Tăng bạch cầu hạt (thay đổi kích thước) và polychromasia là phổ biến. Hồng cầu lưới là phổ biến, và một số Normoblasts được tìm thấy. Hematopoiesis không chỉ diễn ra trong tủy xương mà còn trong lá lách và gan. Lá lách sản xuất chủ yếu hồng cầu, nhưng cũng có bạch cầu hạt và megakaryocytes. Lá lách lớn hơn ở con đực 50% so với con cái. Thiếu máu di truyền bao gồm thiếu máu W, thiếu máu Hertwig, thiếu máu thép, thiếu máu siderocytic, thiếu máu tán huyết và vàng da. Bệnh bạch cầu là phổ biến ở chuột, với một số chủng dễ mắc bệnh hơn những con khác.
Tế bào lympho là số lượng bạch cầu nhiều nhất. Trong năm đầu tiên của cuộc đời, số lượng bạch cầu trung tính (còn gọi là heterophil) tăng lên, và số lượng tế bào lympho giảm. Bạch cầu, bạch cầu lympho và bạch cầu ái toan đạt cực đại vào buổi sáng và có thể cao gấp ba lần so với buổi tối. WBC trong máu đuôi có thể cao hơn 1,5 đến 5 lần trong máu tim. WBC trong máu đuôi thấp hơn trong khi hoạt động so với khi nghỉ ngơi. Basophils rất hiếm. Số lượng tiểu cầu không bị ảnh hưởng bởi tuổi tác hoặc giới tính. Nồng độ corticosteroid cao gây giảm số lượng tế bào lympho. M: E tỷ lệ là > 1.
Hóa học lâm sàng: Khi thu thập máu từ tĩnh mạch đuôi, xoa bóp đuôi sẽ gây ra sự pha loãng với các dịch mô có thể ảnh hưởng đáng kể đến hầu hết các thông số bệnh lý lâm sàng. Nồng độ ALT, AST và LDH trong máu ở đám rối mắt tăng lên trong các lần chảy máu tiếp theo (trong khoảng từ 1 phút đến 48 giờ). CPK giảm và glucose tăng trong máu tim. Gây mê CO₂ làm thay đổi giá trị glucose và khí máu. Có sự khác biệt về chủng trong AST, glucose và clorua. Tuổi tác, giới tính và dinh dưỡng ít tác động. Amyloidosis (tích lũy vật chất giống như tinh bột) ở thận và các cơ quan khác là phổ biến ở chuột.
Xét nghiệm nước tiểu: rất hiếm được xem xét.
4.7 Loài linh trưởng

Huyết học: Có sự khác biệt lớn giữa các loài linh trưởng, đặc biệt là liên quan đến bạch cầu. Mức bạch cầu trưởng thành đạt được sau 12 tuần tuổi. HCT thấp nhất ở 2 tuần tuổi nhưng sau đó tăng dần đến mức trưởng thành sau 2 năm. Hồng cầu hạt là rất hiếm. Số lượng hồng cầu lưới thấp ngoại trừ ở động vật trẻ. Hồng cầu lưới tăng sau khi mất máu.
Phần lớn bạch cầu xuất hiện sau sinh là bạch cầu trung tính, nhưng sau đó tế bào lympho là nhiều nhất. Kích thích trong quá trình lấy máu tĩnh mạch có thể khiến bạch cầu tăng gần gấp đôi, chủ yếu là do sự gia tăng bạch cầu trung tính. Monocytes và basophils là rất hiếm. Tất cả các tạo máu xảy ra trong tủy xương. M:E tỷ lệ là > 1.
Hóa học lâm sàng: Con người và các loài linh trưởng thấp khác nhau rất nhiều về tuổi tác, giới tính, chế độ ăn uống, chủng tộc, điều kiện môi trường và biến đổi sinh học. So với người, các loài linh trưởng thấp hơn có transaminase alanine và aspartate (ALT và AST) cao hơn, phosphatase acid, beta và gamma globulin, amylase, natri, calci và phốt pho vô cơ; và alkaline phosphatase thấp hơn, creatine kinase, bilirubin huyết thanh, cholesterol, acid uric, albumin, và tỷ lệ A / G. AST cao hơn ở khỉ non, alkaline phosphatase cao hơn ở khỉ non và nhỏ. Động vật linh trưởng phải có vitamin C trong chế độ ăn uống để ngăn ngừa hypovitaminosis C, có thể ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa carbohydrate, cholesterol và acid amin.
Xét nghiệm nước tiểu: Nước tiểu khi có tính acid cao hơn và thể tích cao hơn nước tiểu người. Vấn đề về đường tiết niệu là rất hiếm.
4.8 Loài thỏ

Huyết học: Thỏ hoang dã có hồng cầu, HCT và Hb cao hơn thỏ thuần hóa. Hồng cầu lưới là phổ biến (nhiều nhất là 4% số hồng cầu), đặc biệt là ở thỏ sơ sinh, và đạt cực đại ở 2 tháng trước khi giảm xuống mức trưởng thành. Sự hình thành Rouleaux, polychromasia, anisocytosis (sự thay đổi kích thước RBC) và microcytes là bình thường. Sau khi thiếu máu, có thể tìm thấy chứng thiếu máu, bệnh đa hồng cầu, hồng cầu có nhân và cơ thể Howell Jolly.
WBC cao hơn ở giống đực và tăng theo tuổi, đạt đỉnh hai lần, vào khoảng 5 tháng đối với tế bào lympho và 12 tháng đối với bạch cầu trung tính. Biến động bạch cầu đáng kể có thể được gây ra bởi chế độ ăn uống, nhịp sinh học (số lượng tối đa vào đầu giờ chiều) và biến đổi cá thể. Tế bào lympho dồi dào hơn bạch cầu trung tính ở thỏ non, nhưng ở con trưởng thành, số lượng bạch cầu trung tính và tế bào lympho là tương đương. Bạch cầu trung tính, giống như bạch cầu ái toan, đôi khi được gọi là bạch cầu ưa acid giả, heterophils và amphophils. Basophils, bạch cầu ái toan và bạch cầu đơn nhân là phổ biến. 10-15% của bạch cầu là basophils.
Nồng độ corticosteroid cao gây tăng số lượng HCT và bạch cầu trung tính, và giảm số lượng tế bào lympho. Số lượng hồng cầu và bạch cầu trung tính, HCT, Hb và tốc độ lắng tăng trong hội chứng viêm ruột. Tiểu cầu đạt cực đại sau 1 đến 2 tháng sau đó giảm xuống mức trưởng thành. Tỷ lệ M: E thường <1.
Hóa học lâm sàng: Tuổi, giới tính và chủng có ảnh hưởng rất ít đến các giá trị hóa học. Các giá trị có thể thay đổi lớn đối với
BUN, ALT và AST. Fibrinogen huyết tương tăng theo tuổi. Một hội chứng viêm ruột được xác định khi tăng albumin, globulin, BUN và glucose lipase huyết thanh; và giảm natri, kali và clorua.
Xét nghiệm nước tiểu: Vì thỏ là động vật ăn cỏ, nước tiểu của chúng có xu hướng bazo (pH 8 hay 9) và đục. Nước tiểu của chúng cũng có khối lượng cao vì chúng cô đặc nước tiểu như các động vật khác. Trọng lượng riêng có thể thay đổi đáng kể (ví dụ: giữa 1.003 và 1.036) do sự hiện diện của các khoáng chất và có thể có dấu vết của glucose và protein. Một hội chứng viêm ruột thì đặc trưng bởi nước tiểu có tính acid với tăng albumin và giảm urobilinogen.
4.9 Chuột nhắt
Huyết học: Giá trị hồng cầu, HCT và Hb tăng trong 4 tháng đầu đời. RBCs, HCT và Hb thấp hơn một chút ở con cái. Rối loạn phân ly RBC (thay đổi kích thước) và polychromasia là phổ biến. Hồng cầu lưới và hồng cầu có nhân là phổ biến, với hồng cầu lưới là cao nhất ở chuột non (98% hồng cầu). Số lượng hồng cầu lưới giảm theo tuổi.
WBC tăng theo tuổi, với đỉnh ở 3 và 6 tháng (chủ yếu là do tế bào lympho). Số lượng bạch cầu trung tính đạt cực đại sau 1 năm. Bạch cầu trung tính còn được gọi là dị thể. Tế bào lympho là số lượng bạch cầu nhiều nhất và có nhiều tế bào lympho nhỏ hơn so với tế bào lớn. Monocytes có thể chiếm tới 6% số lượng WBC. Basophils rất hiếm. Lá lách và tủy xương đều là cơ quan tạo máu. Lá lách có khả năng sản xuất hồng cầu và bạch cầu hạt, và tiểu cầu chồi ra khỏi megakaryocytes thường trú. Số lượng tiểu cầu không bị ảnh hưởng bởi tuổi tác hoặc giới tính. M: E tỷ lệ là > 1.
So với máu tim, máu đuôi có lượng bạch cầu cao hơn nhiều. WBC thấp hơn trong khi hoạt động so với khi nghỉ ngơi. Kích thích do lấy mẫu máu có thể gây ra tăng bạch cầu. Stress gây ra bởi gây mê ether gây tăng hồng cầu, HCT và Hb do co thắt lách và tăng WBC do phân phối lại từ máu ngoại vi. Hồng cầu tăng khi nóng và giảm khi lạnh. Nhịn ăn có thể gây tăng RBCs, HCT và Hb. Nồng độ corticosteroid cao gây giảm số lượng tế bào lympho. Chuột bị giảm bạch cầu trong động dục. Chuột dễ bị bệnh bạch cầu, nhưng ít hơn chuột nhà. Những con chuột không có mầm bệnh đã giảm WBC và tăng RBC, HCT và Hb so với những con chuột không được bảo vệ.
Hóa học lâm sàng: Giá trị có thể khác nhau giữa các chủng. Khi thu thập máu từ tĩnh mạch đuôi, xoa bóp đuôi sẽ gây ra sự pha loãng với các dịch mô có thể ảnh hưởng đáng kể đến hầu hết các thông số bệnh lý lâm sàng. Chuột già có nồng độ glucose cao hơn. Chuột đực non (<4 tháng) có nồng độ creatinine huyết thanh cao. Hạn chế bằng tay trong khi lấy mẫu có thể làm tăng protein huyết tương, calci và magiê; và giảm pH máu và glucose. Với tuổi tác, fibrinogen huyết tương, tổng protein và gamma globulin tăng trong khi albumin có xu hướng giảm. Mặc dù chuột không có túi mật, nhưng ống mật của chúng có thể bị tắc nghẽn do tăng men gan. Nhịn ăn và giảm tiêu thụ thực phẩm dẫn đến giảm ALP do giảm isoenzyme ALP đường ruột.
Xét nghiệm nước tiểu: Nước tiểu chuột có xu hướng bazo, màu vàng và khối lượng cao. Nước tiểu trong hoặc chảy nước là dấu hiệu của bệnh thận mãn tính (ví dụ như bệnh amyloidosis ở thận). Trong khi bệnh thận là phổ biến ở chuột, một số protein niệu là bình thường. Sỏi tiết niệu (hình thành sỏi thận) thường gặp ở chuột không có mầm bệnh.
Tham khảo thêm những bài viết hay tại nongtraithucung.com



