Tóm tắt: Ba chương chẩn đoán Huyết học, Hóa học lâm sàng và Phân tích nước tiểu hy vọng sẽ cung cấp nhiều thông tin và được áp dụng nhiều nhất trong cuốn cẩm nang này. Có rất nhiều thông tin hữu ích được đưa vào các chương này. Khi một bệnh lý lâm sàng trên động vật được đánh giá và có giá trị bất thường trên nhiều thông số đã xác định, các chương này có thể giúp ta xác định được điều gì đã gây ra sự bất thường ấy.
Bên cạnh tên của từng tham số là các chữ viết tắt phổ biến của nó. Với mỗi loại tham số sẽ có danh sách các cơ quan bị ảnh hưởng, thông tin xử lý mẫu vật và các xét nghiệm hỗ trợ có thể được dùng để củng cố cho việc chẩn đoán. Theo sau chúng là một mô tả ngắn về tham số bao gồm điểm mạnh, điểm yếu và các thông tin cần thiết khác.
Phần chẩn đoán huyết học được chia làm 4 phần: hồng cầu, bạch cầu, sự cầm máu và tủy xương với tổng là 23 thông số huyết học.
Bố cục như sau: chương này là chẩn đoán huyết học, chương 6 chẩn đoán hóa học lâm sàng và chương 7 chẩn đoán phân tích nước tiểu.
Tên tham số (viết tắt)
Các cơ quan bị ảnh hưởng: các cơ quan hoặc các mô có thể bị ảnh hưởng. Vd: gan, thận,...
Xử lý mẫu: thông tin về từng loại mẫu cần thiết, bảo quản và lưu trữ.
Xét nghiệm hỗ trợ: các tham số khác có thể hữu ích để hỗ trợ và làm rõ chẩn đoán.
Mô tả ngắn gọn cho từng tham số, bao gồm sự tăng và giảm của nó.
Trạng thái Mô tả Tăng Danh sách các nguyên nhân có khả năng khi giá trị tăng cao bao gồm bệnh và độc tính cũng như sự can thiệp của thuốc và hóa chất. Giảm Danh sách những nguyên nhân có khả năng gây giảm giá trị bao gồm bệnh và độc chất cũng như sự can thiệp của thuốc và hóa chất. "Không có ý nghĩa lâm sàng" nghĩa là giảm hoặc không xảy ra hoặc không liên quan. 5.1 Hồng cầu
5.1.1 Số lượng hồng cầu (RBC)
Các cơ quan bị ảnh hưởng: Máu toàn phần (được bảo quản bằng EDTA) có thể được lưu trữ 24 giờ tại nhiệt độ phòng, 48 giờ ở
Các xét nghiệm hỗ trợ: Công thức máu (CBC), tỷ lệ M:E, sắt huyết thanh, tổng số lượng sắt có khả năng liên kết, ferritin huyết thanh, protein liên kết với sắt, lượng sắt trong tủy, máu trong phân.
Mô tả:
Hồng cầu có chứa huyết sắc tố và vận chuyển oxy đến cơ thể. Tế bào hồng cầu đều có nhân ở tất cả các động vật có xương sống ngoại trừ động vật có vú. Hồng cầu của động vật có vú là một tế bào trưởng thành và không có nhân.
Số lượng hồng cầu là thước đo số lượng hồng cầu lưu hành trên mỗi đơn vị thể tích máu
Số lượng hồng cầu, hematocrit và giá trị huyết sắc tố thường tăng và giảm cùng với nhau. Kích thích gây ra bởi tiêm tĩnh mạch và vận động có thể là nguyên nhân làm các thông số này tăng đáng kể do co thắt lách. Độ cao cũng có thể làm chúng tăng lên. Những giá trị này có khoảng dao động rộng ở thú non và cao đối với loài chồn sương (đặc biệt là con đực).
Số lượng hồng cầu được thực hiện bởi bộ đếm điện tử (bộ đếm phải được hiệu chuẩn cho kích thước hồng cầu của loài), hoặc kính hiển vi bằng phương pháp hemocytometer (buồng đếm hồng cầu).
Thiếu máu: nghĩa là giảm đáng kể số lượng hồng cầu, hematocrit, nồng độ huyết sắc tố, hoặc số lượng oxy mang hemoglobin do mất máu hoặc suy giảm sản xuất máu (tình trạng bệnh thứ phát). Các bệnh thiếu máu được phân loại theo kích thước hồng cầu dựa tren giá trị (MCV) và hàm lượng huyết sắc tố ( dựa trên các giá trị MCHC)
Hai thuật ngữ bệnh “thiếu máu tăng hồng cầu” hay “bệnh đa hồng cầu” đều là sự gia tăng số lượng hồng cầu trong máu. Cả hai thuật ngữ được sử dụng thay thế cho nhau. Nguyên nhân phổ biến nhất gây ra các bệnh của hồng cầu trong các nghiên cứu phòng thí nghiệm là sự co thắt lách do căng thẳng gây ra, như có thể xảy ra trong quá trình chảy máu, hoặc cô đặc hồng cầu khi một con vật bị mất nước. Tăng hồng cầu có thể có nguyên nhân nguyên phát hoặc thứ phát.
1. Tăng hồng cầu
Sự sản xuất quá mức của hồng cầu thường được gây ra bởi sự kích thích erythropoietin (EPO) gây thiếu oxy mô, hoặc bù quá mức sau khi ức chế tủy.
Mất nước, thiếu máu, tăng methemoglobin huyết, co thắt lách.
2. Giảm hồng cầu (Thiếu máu)
Thường gây ra bởi thiếu máu bất sản, ức chế tủy hoặc mất máu như chảy máu đường tiêu hóa (loét, ung thư đại tràng) hoặc đường sinh dục.
Thiếu hụt sắt, đồng, vitamin B hoặc protein cần thiết cho sự tạo hồng cầu.
Bệnh rối loạn đông máu (như thiếu vitamin K hoặc yếu tố đông máu), giảm tiểu cầu hoặc bệnh Von Willebrand (ở chó).
Mang thai, kinh nguyệt kéo dài, sảy thai.
Sốt rét, arbovirus ở động vật linh trưởng, ký sinh trùng đường ruột (ví dụ: cầu trùng và giun móc).
Thiếu máu truyền nhiễm mèo (E. felis và H. felis).
U lympho ác tính (linh trưởng).
Chứng loãng máu (ví dụ: dùng thuốc tiêm tĩnh mạch).
Gây mê (tồn dư tại lách), phẫu thuật.
Warfarin, arsenical, estrogen, phenylbutazone, aspirin, sulphonamides, thuốc kháng histamine, cloramphenicol, dẫn xuất than-tar, ngộ độc dương xỉ nước lợ, chiết xuất trichloroetylen thức ăn.
Phản ứng với căng thẳng hoặc phấn khích.
Bệnh đa hồng cầu, bệnh tim bẩm sinh, tăng sản tủy xương, ung thư biểu mô thận.
Tăng sản xuất EPO, triển dưỡng gan và lá lách.
Các cơ quan bị ảnh hưởng: Tủy, đường ruột, thận.
Lấy và xử lý mẫu: Máu toàn phần (được bảo quản bằng EDTA) có thể được lưu trữ 24 giờ tại nhiệt độ phòng, 48 giờ ở 4°C.
Các xét nghiệm hỗ trợ: Công thức máu toàn phần (CBC), tỷ lệ M:E.
5.1.2 Hình thái hồng cầu
Phết kính là phương pháp thích hợp để đánh giá hình thái hồng cầu. Vết máu dễ bị ảnh hưởng do làm khô, do cơ học và tiếp xúc với bề mặt kính. Các hồng cầu có thể khác nhau về kích thước, hình dạng, khối lượng, màu sắc, tính dễ vỡ và phân bố huyết sắc tố. Một RBC bình thường được gọi là một Normocyte. Bất kỳ RBC bất thường về hình thái gọi là một Poikilocyte. Poikilocytes thường liên quan đến hồng cầu bất thường do chấn thương tuần hoàn, căn bệnh, độc tính, mẫu phết máu. Bảng 5.1 minh họa và mô tả hình thái của poikilocytes thường quan sát thấy kèm theo mô tả ngắn gọn.
Bảng 5.1 - Hình dạng hồng cầu
| Hình ảnh (Mô tả) | Tên gọi & Đặc điểm |
| Blister Cells | Blister cells xuất hiện như thể chúng có một lỗ hoặc nhiều lỗ được đục lỗ thông qua thành của các tế bào hồng cầu. Chúng được quan sát nhiều nhất trong vết phết máu mèo. Các tế bào Blister có thể là kết quả của quá trình tổn thương do oxy hóa. |
| Anisocytosis | Anisocytosis chỉ ra nhiều kích thước tế bào hồng cầu (không đều nhau). |
| Agglutination | Agglutination được xác định khi các tế bào hồng cầu co cụm hoặc kết dính cùng nhau trong các nhóm (không theo hàng) như một chùm nho. Agglutination được phân biệt với rouleaux (xếp chồng). Hồng cầu đa sắc không tham gia vào sự hình thành rouleaux nhưng có thể kết dính. |
| Acanthocytes | Acanthocytes: Các hình dạng với sự thay đổi khoảng cách chiều dài không đều trên bề mặt của tế bào hồng cầu. Acanthocytes là kết quả của chế độ ăn uống với lượng chất béo cao, với các rối loạn chuyển hóa lipid và với ung thư máu ác tính, bệnh gan, PSS, HAS, DIC, u lympho, viêm cầu thận. |
| Hình ảnh & Tên gọi | Đặc điểm & Nguyên nhân lâm sàng |
| Macrocytes (Hồng cầu lớn) | Lớn hơn so với tế bào hồng cầu bình thường. |
| Leptocytes | Là những tế bào hồng cầu mỏng, lớn, có hàm lượng huyết sắc tố ở bề mặt vượt quá ngưỡng. Thành có xu hướng nhăn hoặc gấp, hình thành các tế bào xoắn. Đôi khi chúng được nhìn thấy với bệnh gan. |
| Keratocytes | Là các tế bào hình lưỡi liềm. Chúng được hình thành từ cắt cơ học các tế bào hồng cầu (thường là do lắng đọng fibrin). Keratocytes thường đi kèm với schizocytes (mảnh). Xuất hiện ở: tổn thương vi mạch, DIC (đông máu nội mạch rải rác), HSA (ung thư mạch máu). |
| Hypochromasia (Nhược sắc) | Đề cập đến sự nhợt nhạt do không đủ khả năng tổng hợp huyết sắc tố. Các tế bào hồng cầu có một vùng lớn ở trung tâm bị nhợt nhạt dần dần về phía thành của tế bào hồng cầu. RBCs chưa trưởng thành có thể xuất hiện hypochromic do kích thước lớn của chúng. Tìm thấy trong: chứng thiếu sắt và rối loạn sử dụng sắt. |
| Echinocytes (Hồng cầu hình gai) | Được cho là hình thành do kết quả của sự mất nước tế bào hồng cầu hoặc do sự mở rộng ra bên ngoài màng hồng cầu. Echinocytes I: Là những tế bào hồng cầu có hình dạng góc cạnh hoặc gai ngắn. Chúng thường do: kéo dài thời gian trữ mẫu, slide khô chậm, ure huyết, cấp doxorubicin trên mèo. |
| Codocytes (Hồng cầu hình bia) | Vùng trung tâm tối của hemoglobin được bao quanh bởi một vùng nhạt và lại được bao quanh bởi thành hồng cầu. Lên đến 50% tế bào hồng cầu của chó có thể là Codocytes. Số lượng tăng khi: bệnh lý ở gan, thiếu sắt, sau khi cắt lách, khẩu phần cholesterol cao. |
| Eccentrocytes | Phân huyết sắc tố như bị dồn lại do nồng độ hemoglobin tập trung cao hơn phần còn lại của tế bào hồng cầu. Chúng chỉ ra tổn thương oxy hóa màng tế bào hồng cầu và có thể xuất hiện thể Heinz. Nguyên nhân: hành tỏi, vitamin K, acetaminophen. |
| Dacryocytes (Hồng cầu hình giọt nước) | Những tế bào hồng cầu với hình dạng giống như những giọt nước mắt. Nguyên nhân: Có thể là do chuẩn bị phết máu kém hoặc lipid máu, thiếu máu hoại tử, xơ hóa tủy xương, tăng hoạt lách. |
| Ghost cells (Hồng cầu bóng ma) | Là các tế bào hồng cầu đã được lọc ra huyết sắc tố. Chúng là bằng chứng của tan máu nội mạch. |
| Elliptocytes (Hồng cầu hình elip) | Là các tế bào từ hình bầu dục đến hình xì gà. Các tế bào hồng cầu họ lạc đà thường có hình elip. |
| Echinoelliptocytes | Là các tế bào hồng cầu từ hình bầu dục đến hình điếu thuốc xì gà với các hình dạng có độ dài bằng nhau cách đều nhau trên bề mặt của tế bào hồng cầu. Chúng có thể được nhìn thấy ở những con mèo bị bệnh gan đường mật và hiếm gặp ở các loài khác. |
| Echinocytes III | Là các tế bào hồng cầu với các hình dạng chiều dài gai bằng nhau cách đều nhau trên bề mặt hồng cầu. Nguyên nhân: Chúng có thể được tăng lên ở động vật mắc bệnh thận và/hoặc rối loạn điện giải. Chúng cũng có thể xảy ra giả với lý do tương tự được mô tả cho echinocytes I. |
Rouleaux
Mô tả: Rouleaux là sự xếp chồng các tế bào hồng cầu (giống chồng tiền xu).
Đặc điểm loài: Hồng cầu ngựa và mèo dễ dàng hình thành rouleaux.
Ý nghĩa bệnh lý: Sự hình thành rouleaux quá mức trong bất kỳ loài nào có thể liên quan đến tăng protein máu.
2. Reticulocyte (Hồng cầu lưới)
Nhận dạng: Có thể được nhận dạng trên vết phết máu nhuộm với thuốc nhuộm supravital. NMB (New Methylene Blue) kết tủa axit nucleic (như RNA) thành màu xanh đậm.
Ý nghĩa: Số lượng tăng cho thấy có sự tái tạo tế bào hồng cầu.
Tương quan: Chúng tương ứng với polychromatophils (hồng cầu đa sắc) trên mẫu nhuộm Romanowsky.
3. Polychromasia (Hồng cầu đa sắc)
Mô tả: Dùng để chỉ các tế bào hồng cầu xuất hiện màu xanh xám với thuốc nhuộm Romanowsky.
Tương quan: Chúng tương ứng với hồng cầu lưới trên vết phết máu nhuộm bằng thuốc nhuộm supravital (ví dụ: xanh methylen mới, NMB).
Ý nghĩa: Số lượng tăng cho thấy tăng sự tái tạo tế bào hồng cầu.
Phần 5: Các thể vùi và mảnh vỡ tế bào
1. Basophilic stippling (Chấm ưa kiềm)
Mô tả: Đề cập đến các đốm xanh (với nhuộm Romanowsky) trong các tế bào hồng cầu. Hiện tượng này là do sự hiện diện của RNA tế bào chất và phản ánh sự chưa trưởng thành của tế bào hồng cầu.
Ý nghĩa: Số lượng tế bào hồng cầu tăng lên với Basophilic stippling thường kèm theo các chỉ tiêu khác liên quan sự tái tạo hồng cầu (đặc biệt là trong động vật nhai lại) như hồng cầu đa sắc và hồng cầu lưới.
Lưu ý đặc biệt: Ngộ độc chì cản trở con đường trao đổi chất trong việc phát triển hồng cầu và có thể dẫn đến sự hiện diện của hồng cầu basophilic stippling trong máu ngoại vi kèm theo không có thiếu máu hoặc chỉ thiếu máu nhẹ.
2. Unclassified Poikilocytosis
Mô tả: Hình dạng hồng cầu không đồng nhất.
Đối tượng: Thuật ngữ này có thể được sử dụng để mô tả hình dạng hồng cầu bất thường ở bê, hươu, dê và lợn.
3. Schizocytes (Mảnh vỡ hồng cầu)
Mô tả: Là những mảnh tế bào hồng cầu bị tổn thương hoặc cắt (xem keratocytes).
Bệnh lý liên quan: Có trong các bệnh DIC (đông máu nội mạch rải rác), viêm cầu thận, HAS (Hemangiosarcoma - u mạch máu), xơ hóa tủy xương.
4. Nuclear remnants (Mảnh nhân / Thể Howell-Jolly)
Mô tả: Là cấu trúc nhỏ, tròn, màu tím sẫm thể hiện một phần trong tế bào bị đùn ép (còn sót lại của nhân). Chúng thường đứng một mình và nằm gần thành của tế bào hồng cầu.
Nguyên nhân: Có thể nhìn thấy số lượng nhiều sau cắt lách hoặc sự suy giảm chức năng của lách.
5. Heinz bodies (Thể Heinz)
Nhận dạng: Khó để hình dung với các mẫu nhuộm Romanowsky. Chúng được quan sát tốt hơn và định lượng trên mẫu phết được nhuộm bằng NMB và bắt màu xanh dương.
Cơ chế: Chúng cho thấy tình trạng oxy hóa các tế bào hồng cầu và có thể được nhìn thấy cùng với các eccentrocytes.
Lưu ý ở mèo: Những thể Heinz nhỏ có thể được nhìn thấy với số lượng lớn trên vết phết máu từ những con mèo bình thường, không thiếu máu.
4. Microcytes
Mô tả: Tế bào nhỏ hơn so với tế bào hồng cầu bình thường.
5.1.3 Hematocrit
Các cơ quan bị ảnh hưởng: tủy.
Lấy và xử lý mẫu: máu toàn phần (được bảo quản bằng EDTA) có thể được lưu trữ 6 giờ tại nhiệt độ phòng, 48 giờ ở 4°C.
Các xét nghiệm hỗ trợ: công thức máu toàn phần (CBC), tỷ lệ M:E, sắt huyết thanh, tổng số sắt liên kết, ferritin huyết thanh, protein liên kết sắt, sắt trong tủy, máu trong phân.
Mô tả:
Hematocrit (còn gọi là dung tích hồng cầu, PCV) là phần trăm thể tích chiếm bởi hồng cầu sau khi máu được ly tâm khoảng 5 phút (10 - 20 phút đối với máu cừu và dê vì kích thước tế bào nhỏ). Hematocrit có thể được tính bằng bộ đếm điện tử từ số lượng hồng cầu và MCV. Các phương pháp ly tâm máu không đòi hỏi thiết bị đắt tiền, nhưng nó dễ bị lỗi khi ly tâm không thể loại bỏ huyết thanh bị mắc kẹt. Lớp giữa gồm tiểu cầu và bạch cầu không được tính trong phép đo hematocrit.
Tăng và giảm: xem phần số lượng hồng cầu vì hồng cầu, hematocrit và huyết sắc tố thường tăng và giảm cùng nhau, việc giải thích sự bất thường là giống nhau cho cả ba.
5.1.3 Hematocrit
Các cơ quan bị ảnh hưởng: tủy.
Lấy và xử lý mẫu: máu toàn phần (được bảo quản bằng EDTA) có thể được lưu trữ 6 giờ tại nhiệt độ phòng, 48 giờ ở 4°C.
Các xét nghiệm hỗ trợ: công thức máu toàn phần (CBC), tỷ lệ M:E, sắt huyết thanh, tổng số sắt liên kết, ferritin huyết thanh, protein liên kết sắt, sắt trong tủy, máu trong phân.
Hematocrit (còn gọi là dung tích hồng cầu, PCV) là phần trăm thể tích chiếm bởi hồng cầu sau khi máu được ly tâm khoảng 5 phút (10 - 20 phút đối với máu cừu và dê vì kích thước tế bào nhỏ). Hematocrit có thể được tính bằng bộ đếm điện tử từ số lượng hồng cầu và MCV. Các phương pháp ly tâm máu không đòi hỏi thiết bị đắt tiền, nhưng nó dễ bị lỗi khi ly tâm không thể loại bỏ huyết thanh bị mắc kẹt. Lớp giữa gồm tiểu cầu và bạch cầu không được tính trong phép đo hematocrit.
Tăng và giảm: xem phần số lượng hồng cầu vì hồng cầu, hematocrit và huyết sắc tố thường tăng và giảm cùng nhau, việc giải thích sự bất thường là giống nhau cho cả ba.
5.1.4 Huyết sắc tố [Hb, HB, HGB, Hgb]
Các cơ quan bị ảnh hưởng: tủy.
Lấy và xử lý mẫu: máu toàn phần (được bảo quản bằng EDTA) có thể được lưu trữ 24 giờ tại nhiệt độ phòng, 48 giờ ở 4°C.
Các xét nghiệm hỗ trợ: Công thức máu toàn phần (CBC), tỷ lệ M:E, sắt huyết thanh, tổng số sắt liên kết, ferritin huyết thanh, protein liên kết sắt, sắt trong tủy, máu trong phân.
Huyết sắc tố là các phân tử mang oxy trong hồng cầu, vì vậy thông số này là thước đo khả năng vận chuyển máu của cơ thể để vận chuyển oxy trong cơ thể. Phương pháp Cyanmethemoglobin có thể đo lường tất cả các loại huyết sắc tố. Các phương pháp khác ít chính xác hơn. Thuốc chống đông máu quá mức gây ra loãng máu và nhược sắc. Độ cao, tiêm tĩnh mạch và vận động có thể gây tăng số lượng hồng cầu, hematocrit và các giá trị huyết sắc tố đáng kể do co thắt lách. Hb có đơn vị g/L (đơn vị SI) hoặc g/dL (đơn vị không SI).
LƯU Ý: huyết sắc tố cũng được đo trong nước tiểu; xem chương 7, chẩn đoán phân tích nước tiểu.
Tăng : xem Erythrocytes S RBC, HCT và Hb thường tăng và giảm cùng nhau.
Giảm: xem Erythrocytes S RBC, HCT và Hb thường tăng và giảm cùng nhau, chế độ ăn uống thiếu hụt protein
5.1.5 Huyết sắc tố trung bình [MCH]
Các cơ quan bị ảnh hưởng: tủy.
Lấy và xử lý mẫu: máu toàn phần (được bảo quản bằng EDTA) có thể được lưu trữ 6 giờ ở nhiệt độ phòng, 24 giờ ở 4°C. Máu mao mạch cũng có thể được sử dụng.
Các xét nghiệm hỗ trợ: công thức máu toàn phần (CBC), tỷ lệ M:E, sắt huyết thanh, tổng số sắt liên kết, ferritin huyết thanh, protein liên kết sắt, sắt trong tủy, máu trong phân.
Chỉ số MCH là hàm lượng huyết sắc tố trung bình trong hồng cầu. MCH và MCV thường tăng và giảm cùng nhau (nghĩa là khi các tế bào lớn hơn, chúng cũng sẽ chứa nhiều huyết sắc tố hơn). MCH có thể làm nổi bật các vấn đề trong số lượng hồng cầu, hematocrit và huyết sắc tố, mô tả quá trình thiếu máu.
Tăng:
Thiếu máu hồng cầu to, sau sinh (tình trạng bình thường)
Giảm:
Thiếu máu thiếu sắt, thiếu máu nhược sắc, thiếu máu mãn tính, thiếu hụt vitamin B hoặc đồng.
5.1.6 Nồng độ Hemoglobin trung bình hồng cầu [MCHC]
Các cơ quan bị ảnh hưởng: tủy.
Lấy và xử lý mẫu: máu toàn phần (được bảo quản bằng EDTA) có thể được lưu trữ 6 giờ ở nhiệt độ phòng, 24 giờ ở 4°C. Máu mao mạch cũng có thể được sử dụng.
Các xét nghiệm hỗ trợ: công thức máu toàn phần (CBC), tỷ lệ M:E, sắt huyết thanh, tổng số sắt liên kết, ferritin huyết thanh, protein liên kết sắt, sắt trong tủy, máu trong phân.
MCHC là nồng độ hemoglobintrung bình trong hồng cầu. MCHC có thể làm nổi bật các vấn đề về số lượng hồng cầu, hematocrit và huyết sắc tố, mô tả quá trình thiếu máu.
Tăng:
Thiếu máu hồng cầu to, thiếu máu di truyền.
Giảm:
Thiếu máu thiếu sắt, ngộ độc chì, ngộ độc penicillamine
5.1.7 Thể tích trung bình hồng cầu [MCV]
Các cơ quan bị ảnh hưởng: tủy, đường ruột, thận, gan, tuyến giáp.
Lấy và xử lý mẫu: máu toàn phần (được bảo quản bằng EDTA) có thể được lưu trữ 6 giờ ở nhiệt độ phòng, 24 giờ ở 4°C. Máu mao mạch cũng có thể được sử dụng.
Các xét nghiệm hỗ trợ: công thức máu toàn phần (CBC), tỷ lệ M:E, sắt huyết thanh, tổng số sắt liên kết, ferritin huyết thanh, protein liên kết sắt, sắt trong tủy, máu trong phân.
MCV là thể tích trung bình của hồng cầu. MCV và MCH thường tăng và giảm cùng nhau (nghĩa là khi các tế bào lớn hơn, chúng cũng sẽ chứa nhiều huyết sắc tố). MCV có thể làm nổi bật các vấn đề về số lượng hồng cầu, hematocrit và huyết sắc tố, mô tả quá trình thiếu máu.
Tăng:
Bệnh thiếu máu do Megaloblastic gây ra bởi thuốc, rượu và sự thiếu hụt vitamin.
Mất máu cấp tính, thiếu máu bất sản, thiếu máu tán huyết mãn tính, thiếu máu ác tính, bệnh hồng cầu lưới, bệnh gan, suy giáp, sưng hồng cầu do lưu trữ mẫu dài.
Giảm:
Thiếu máu hồng cầu nhỏ và nhược sắc, ngộ độc chì, thiếu hụt sắt.
5.1.8 Tế bào hồng cầu có nhân [nRBC, NRBC, NucRBC]
Các cơ quan bị ảnh hưởng: tủy
Lấy và xử lý mẫu: máu toàn phần (được bảo quản bằng EDTA) có thể được lưu trữ 24 giờ tại nhiệt độ phòng, 48 giờ ở 4°C. Không sử dụng heparin.
Các xét nghiệm hỗ trợ: công thức máu toàn phần (CBC), tỷ lệ M:E, sắt huyết thanh, tổng số sắt liên kết, ferritin huyết thanh, protein liên kết sắt, sắt trong tủy, máu trong phân.
nRBC được gọi là hồng cầu có nhân và là những tế bào chưa trưởng thành được giải phóng sớm từ tủy xương để đáp ứng với
thiếu máu. Chúng cũng có thể là dấu hiệu tốt trong trường hợp thiếu máu tái tạo. Hồng cầu lưới thường đi kèm với nRBC. Sự hiện diện của nRBC trong tình trạng thiếu máu ở động vật là một dấu hiệu của tủy đáp ứng trừ khi số lượng của chúng là lớn.
Ngựa không giải phóng nRBC.
Tăng:
Đáp ứng sớm của hồng cầu có nhân với bệnh thiếu máu tái tạo, chấn thương tủy xương nghiêm trọng, tạo huyết ngoài tủy.
Ức chế chức năng lách ở chó do điều trị bằng corticosteroid
Rối loạn tủy (tăng nRBC khi không có hồng cầu lưới như trong bệnh bạch cầu ở mèo)
Hội chứng Cushing ở chó, tăng sinh nguyên tủy bào trên mèo
Giảm oxy huyết, nhiễm độc chì, oncolytics
Giảm:
Giảm hoặc không có nguyên hồng cầu không phải là bệnh lý.
5.1.9 Hồng cầu lưới [Ret, Retics]
Các cơ quan bị ảnh hưởng: tủy, dạ dày ruột, thận.
Lấy và xử lý mẫu: máu toàn phần (được bảo quản bằng EDTA, heparin hoặc oxalate). Máu mao mạch cũng có thể được sử dụng.
Các xét nghiệm hỗ trợ: công thức máu toàn phần (CBC), tỷ lệ M:E, sắt huyết thanh, tổng số sắt liên kết, ferritin huyết thanh, protein liên kết sắt, sắt trong tủy, máu trong phân.
Hồng cầu lưới là hồng cầu chưa trưởng thành, xuất hiện màu xanh lam dạng lưới khi nhuộm Romanowsky. Chúng giải phóng vào hệ tuần hoàn để đáp ứng với bệnh thiếu máu (trừ ở ngựa) và do đó được dùng để đánh giá với bệnh thiếu máu trên động vật. Kích thích sản xuất hồng cầu lưới sớm do đáp ứng với erythropoietin (EPO) và hồng cầu lưới xu hướng lớn hơn, ít trưởng thành hơn và chứa nhiều vật liệu dạng lưới. Hồng cầu lưới không khác biệt rõ ràng từ hồng cầu bình thường khi nhuộm
với phương pháp nhuộm Wright, vì vậy nhuộm supravital được ưu tiên sử dụng (xanh methylene mới- NMB).
Ngựa không giải phóng hồng cầu lưới để đáp ứng với thiếu máu. Hồng cầu lưới không tìm thấy ở gia súc, dê, ngựa và cừu. Chúng được tìm thấy trong máu của chó, mèo, lợn và phổ biến ở chuột và thỏ. Loài chồn có số lượng hồng cầu lưới cao. Gây kích ứng khi lấy mẫu có thể kích thích giải phóng hồng cầu lưới.
Tăng:
Tăng hồng cầu do tan máu (thiếu máu tán huyết), xuất huyết, mất máu.
Thiếu máu và phục hồi từ thiếu máu bất sản
Co thắt lách để đáp ứng với kích thích.
Epinephrine
Giảm:
Rối loạn về sự trưởng thành của hồng cầu (ví dụ: thiếu máu mãn tính, thiếu máu bất sản, thiếu máu ác tính, thiếu máu hồng cầu hình liềm, khối u ác tính ở tủy xương), bệnh thận, bệnh nội tiết, thiếu máu thiếu sắt, sản xuất erythropoietin (EPO) bị suy yếu ở thận, thiếu hụt vitamin B9 hoặc B12.
Hóa trị.
5.2 Bạch cầu
5.2.1 Tổng số bạch cầu [WBC]
Các cơ quan bị ảnh hưởng: tủy, tim, lá lách, thận.
Lấy và xử lý mẫu: máu toàn phần (được bảo quản bằng EDTA) có thể được lưu trữ 24 giờ tại nhiệt độ phòng, 48 giờ ở 4°C. Máu mao mạch cũng có thể được sử dụng. Không được dùng heparin.
Các xét nghiệm hỗ trợ: công thức máu toàn phần (CBC), công thức bạch cầu, tỷ lệ M:E.
Bạch cầu đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống miễn dịch.
Tổng số bạch cầu là một biểu hiện của số lượng tuyệt đối của 5 loại bạch cầu đa nhân chính bạch cầu trung tính (trưởng thành và non), tế bào lympho, bạch cầu ái toan, bạch cầu ưa bazơ và bạch cầu đơn nhân. Sự gia tăng WBC chỉ ra một tình trạng bệnh lý và được đánh giá tốt nhất bằng cách đánh giá số lượng các loại bạch cầu cụ thể.
WBC có thể thay đổi theo nhịp sinh học và vị trí lấy máu. Tăng bạch cầu sinh lý do giải phóng epinephrine có thể là kết quả của vận động, stress và sự sợ hãi của con thú khi bị lấy máu. Điều này có thể dẫn đến chẩn đoán sai. Ở động vật nhỏ như chuột nhắt, chuột cống và thỏ có số lượng tế bào lympho cao, căng thẳng gây ra giảm bạch cầu lympho và bạch cầu trung tính với sự giảm rõ rệt của tế bào lympho trong tuần hoàn dẫn đến giảm bạch cầu tổng thể. Các loài có số lượng bạch cầu tăng do tăng bạch cầu trung tính và giảm bạch cầu lympho khi bị stress. Việc giải phóng (hoặc sử dụng) corticosteroid gây ra tăng bạch cầu trung tính, giảm bạch cầu lympho và giảm bạch cầu ái toan. Do đó, có thể nhận định trường hợp tăng bạch cầu khi có tỷ lệ N:L > 1.0 và giảm bạch cầu khi có tỷ lệ N:L < 1.0.
Tăng:
Nhiễm trùng, nhiễm bệnh, khối u, nhiễm độc, bệnh bạch cầu, tan máu cấp tính, xuất huyết cấp tính, nhồi máu cơ tim cấp tính, bỏng, hoại thư.
Các bệnh gây viêm không nhiễm trùng (ví dụ như căng thẳng và viêm tụy)
Vận động, hưng phấn, sốt, đau, kinh nguyệt.
Oncolytics, liệu pháp steroid, epinephrine
Chì, thủy ngân, nọc độc.
Giảm:
Nhiễm trùng nặng (nhu cầu của mô quá lớn)
Thiếu máu ác tính, bệnh bạch cầu bạch huyết (do sự tổn thương của tế bào lympho), thiếu máu bất sản, sốc nội độc tố, sốc phản vệ, suy nhược, cường lách, chấn thương thận nặng, giảm bạch cầu do virus trên mèo.
Sulfonamid, kháng sinh, thuốc chống dị ứng, thuốc giảm đau, thuốc chống co giật, thuốc chống ung thư, arsen hữu cơ, oncolytics, bức xạ ion hóa.
Bạch cầu ưa bazơ có liên quan đến các phản ứng quá mẫn và sự viêm. Bạch cầu ưa bazơ là một bạch cầu hạt không đều, đa thùy, nhân nhợt nhạt (2-3 thùy) và một số ít hạt tế bào chất có kích thước và đặc điểm bắt màu khác nhau giữa các loài. Bạch cầu ưa bazơ có hình thái tương tự như tế bào mast và một số chức năng
tương tự. Chúng sản xuất và lưu trữ histamine, heparin, serotonin, axit hyaluronic và các chất hoạt hóa khác, giải phóng các hóa chất này khi bị kích thích. Sau khi rời tủy xương, bạch cầu ưa bazơ chỉ dành một vài giờ trong tuần hoàn ngoại vi trước khi di chuyển vào các mô cơ thể. Bạch cầu ưa bazơ hiếm thấy, nhưng có thể trùng với bạch cầu ái toan. Bạch cầu ưa bazơ được tìm thấy với số lượng nhỏ ngoại trừ ở thỏ. Theo quy luật, các loài có nhiều bạch cầu ưa bazơ thì có ít tế bào mast và loài có nhiều tế bào mast thì có ít bạch cầu ưa bazơ. Nhiều loài có số lượng bạch cầu ưa bazơ thấp trong cơ thể, có thể gây khó khăn khi xác định bệnh giảm bạch cầu Bazơ.
Tăng
Bệnh bạch cầu do tủy, bệnh bạch cầu ưa bazơ, bệnh gan mạn tính, viêm loét đại tràng, tăng lipid máu, lipid máu, bệnh thận, thiếu máu tán huyết mạn tính, suy giáp
Phản ứng quá mẫn lâu dài với thực phẩm, thuốc, thuốc tiêm protein
Nhiễm giun tim ở chó
Estrogen, thuốc kháng giáp, D-thyroxine
Giảm
Là bình thường đối với hầu hết các loài không có basophils trong một số lượng khác biệt
5.2.4 Bạch cầu ái toan [Eosin, Eos]
Các cơ quan bị ảnh hưởng: tủy, phổi, da, lách.
Lấy và Xử lý mẫu: Máu toàn phần (được bảo quản bằng EDTA)
Cường giáp, rụng trứng, mang thai, căng thẳng, nhiễm trùng cấp tính, nhồi máu cơ tim, chảy máu loét dạ dày, sốc phản vệ, nổi mề đay
Adrenocorticotropin, corticosteroid, progesterone, thyrotropin, L-thyroxine, X-ray.
có thể được lưu trữ 24 giờ tại nhiệt độ phòng, 48 giờ ở 4°C. Máu mao mạch cũng có thể được sử dụng. Không được dùng heparin.
Các xét nghiệm hỗ trợ: công thức máu toàn phần (CBC),công thức bạch cầu, tỷ lệ M:E.
Bạch cầu ái toan cho thấy phản ứng dị ứng và viêm, hoặc nhiễm ký sinh trùng (ví dụ: giun sán). Bạch cầu ái toan là một bạch cầu dạng hạt được phân biệt bởi độ sáng hồng hoặc hạt tế bào chất màu cam và một hạt nhân đa hình mịn. Các hạt có hình que ở mèo. Mặc dù sự xuất hiện của chúng rất khác nhau giữa các loài, tất cả các bạch cầu ái toan xuất hiện khi nhiễm ký sinh trùng, diệt khuẩn và thực bào.
Bạch cầu ái toan được sản xuất chủ yếu ở tủy, nhưng cũng có trong tuyến ức, lách và các hạch bạch huyết cổ tử cung. Chúng chỉ dành vài giờ (1 giờ ở chó) trong tuần hoàn ngoại vi trước khi di chuyển vào các mô. Chúng có xu hướng tụ tập gần các tế bào mast và được tìm thấy chủ yếu ở tủy xương và các cổng vào như da, đường tiêu hóa và phổi. Do đó, CBC có thể không phải là thước đo đáng tin cậy của bạch cầu ái toan trong các mô bị ảnh hưởng. Hầu hết các loài có số lượng bạch cầu ái toan thấp nhất trong buổi sáng. Ở một số loài có số lượng bạch cầu ái toan rất thấp trong cơ thể, do đó có thể khó để xác định giảm bạch cầu ái toan.
Tăng
Trichinosis, giun tim và các ký sinh trùng khác (nematodes, cestodes và ghẻ)
Hen phế quản, viêm phế quản dị ứng không đặc hiệu, dị ứng, nhạy cảm với thuốc, các bệnh khác nhau, u ác tính, bệnh bạch cầu tủy, bệnh bạch cầu ái toan, rối loạn tế bào mast và khối u, ban đỏ, chàm, vẩy nến, ban đỏ đa dạng, nổi mề đay, sốt phát ban, viêm khớp dạng thấp, bệnh lao, động dục
Cắt lách, thiếu oxy nghiêm trọng, thiếu hụt magiê
Penicillin, oncolytics, cephalosporin, sulfonamid, tetracycline,
Thuốc chống co giật, thuốc chống độc, phốt pho, nọc độc.
Giảm
Nhiễm trùng gây sốt, chuyển dạ, sản giật, urê huyết, phẫu thuật kéo dài, sốc, bỏng, nhiễm trùng cấp tính, căng thẳng.
Corticotropin, costicosteroid, epinephrine.
Tế bào lympho rất khác nhau về kích thước. Chúng có một nhân tế bào là hình tròn đơn hoặc hình bầu dục. Tế bào lympho được sản xuất chủ yếu ở tủy xương, nhưng cũng có trong bạch huyết các cơ quan (bao gồm các hạch bạch huyết, tuyến ức và lá lách) và trong hạch đường dạ dày ruột (bao gồm cả amidan, mảng Peyer trong ruột non và ruột thừa). Tế bào lympho chưa trưởng thành lớn, có chất nhiễm sắc phân tán, tế bào chất basophilic và chromatin mịn. Tế bào lympho trưởng thành nhỏ hơn và nhân nhỏ hơn với sự đóng cục của chất nhiễm sắc. Khi được kích thích, tế bào trưởng thành lympho B và tế bào lympho T có thể trở lại dạng chưa trưởng thành (blastogenesis) và sau đó có thể phân chia và trưởng thành.
Tế bào lympho có khả năng tuần hoàn (huy động), nghĩa là chúng rời bỏ máu, nhập vào các mô bạch huyết và sau đó trở lại máu. Điều này cho phép miễn dịch tế bào lympho để phân phối rộng rãi và nhắm mục tiêu kháng nguyên với số lượng lớn khi
5.2.5 Bạch cầu lympho [Lym]
Các cơ quan bị ảnh hưởng: tủy, tuyến ức, thận, tim, tuyến thượng thận, tuyến giáp.
Lấy và xử lý mẫu: máu toàn phần (được bảo quản bằng EDTA) có thể được lưu trữ 24 giờ tại nhiệt độ phòng, 48 giờ ở 4°C. Máu mao mạch cũng có thể được sử dụng. Không được dùng heparin.
Các xét nghiệm hỗ trợ: công thức máu toàn phần (CBC), công thức bạch cầu, tỷ lệ M:E.
Tế bào lympho rất khác nhau về kích thước. Chúng có một nhân tế bào là hình tròn đơn hoặc hình bầu dục. Tế bào lympho được sản xuất chủ yếu ở tủy xương, nhưng cũng có trong bạch huyết các cơ quan (bao gồm các hạch bạch huyết, tuyến ức và lá lách) và trong hạch đường dạ dày ruột (bao gồm cả amidan, mảng Peyer trong ruột non và ruột thừa). Tế bào lympho chưa trưởng thành lớn, có chất nhiễm sắc phân tán, tế bào chất basophilic và chromatin mịn. Tế bào lympho trưởng thành nhỏ hơn và nhân nhỏ hơn với sự đóng cục của chất nhiễm sắc. Khi được kích thích, tế bào trưởng thành lympho B và tế bào lympho T có thể trở lại dạng chưa trưởng thành (blastogenesis) và sau đó có thể phân chia và trưởng thành.
Tế bào lympho có khả năng tuần hoàn (huy động), nghĩa là chúng rời bỏ máu, nhập vào các mô bạch huyết và sau đó trở lại máu. Điều này cho phép miễn dịch tế bào lympho để phân phối rộng rãi và nhắm mục tiêu kháng nguyên với số lượng lớn khi cần thiết. Khả năng miễn dịch là đủ khi thú vừa sinh ra, hoàn thành trong vòng một vài tháng và giảm theo tuổi tác.
Những thay đổi về số lượng bạch cầu thường phản ánh tình trạng sản xuất tế bào trong tủy nhưng đây không phải là trường hợp với tế bào lympho. Tế bào lympho trưởng thành được lưu trữ trong những nơi với vị trí không xác định và số lượng của chúng gấp khoảng 10 lần tìm thấy trong tuần hoàn. Tăng tế bào lympho và giảm tế bào lympho là thuật ngữ được sử dụng để mô tả tăng và giảm tương đối về số lượng tế bào lympho tuần hoàn.
Corticosteroid ức chế sản xuất tế bào lympho, đặc biệt là ở chuột và thỏ. Đôi khi tăng tế bào lympho sinh lý do giải phóng epinephrine trong các trường hợp vận động, căng thẳng và sợ hãi khi lấy máu tĩnh mạch, do sự gia tăng số lượng tế bào lympho lưu thông ở mèo, ngựa và thú non.
Tăng
Nhiễm vi khuẩn hoặc virus mãn tính, phục hồi từ một số bệnh nhiễm trùng, suy vỏ thượng thận, cường giáp, bệnh bạch cầu lympho, u lympho
Tiêm phòng, tăng bạch cầu sinh lý do căng thẳng (đặc biệt là ở mèo và ngựa)
Asen hữu cơ, ngộ độc chì, heparin tĩnh mạch (ở bê và chuột)
Giảm:
Nhiễm trùng cấp tính, suy tim nặng, thiếu máu bất sản, suy tủy, bệnh bạch cầu, bệnh bạch cầu lympho (do sự mong manh của tế bào lympho), bệnh Hodgkin, bệnh ung thư biểu mô ác tính, lupus, rối loạn tuyến ức, khiếm khuyết tế bào lympho T, hội chứngkém hấp thu đường tiêu hóa, suy thận, bệnh Carre
Oncolytics, corticosteroid, X-quang
5.2.6 Bạch cầu đơn nhân [Monos, Mon]
Các cơ quan bị ảnh hưởng: tủy, dạ dày ruột.
Lấy và xử lý mẫu: Máu toàn phần (được bảo quản bằng EDTA) có thể được lưu trữ 24 giờ tại nhiệt độ phòng, 48 giờ ở 4°C. Máu mao mạch cũng có thể được sử dụng. Không được dùng heparin.
Các xét nghiệm hỗ trợ: công thức máu toàn phần (CBC), công thức bạch cầu, tỷ lệ M:E.
Bạch cầu đơn nhân được hình thành trong tủy và kích thước lớn nhất trong số bạch cầu. Chúng được tìm thấy với số lượng nhỏ trong máu. Nhân có thể có nhiều hình dạng khác nhau (nói chung là hình trứng hoặc hình thận). Tế bào chất trong suốt và chứa các hạt nhỏ màu tía và không bào lớn. Bạch cầu đơn nhân thực bào và thường xuyên tấn công các mầm bệnh. Sau khi rời khỏi mạch máu, bạch cầu đơn nhân xâm nhập vào các mô và khoang cơ thể nơi chúng trở thành các đại thực bào, khi bị kích thích bởi sự viêm hoặc kháng nguyên, chúng sẽ trở thành các đại thực bào. Không giống như bạch cầu trung tính, bạch cầu đơn nhân có khả năng nguyên phân trong khi cư trú trong các mô. Corticosteroid ức chế chức năng của bạch cầu đơn nhân và đại thực bào. Vì các đại thực bào hiếm khi được tìm thấy trong máu, nên các tế bào đơn nhân được tính thay thế. Bạch cầu đơn nhân là thành phần của hệ thống thực bào đơn nhân (MPS), trong đó bao gồm các tế bào đơn nhân và các tiền chất tế bào đơn nhân trong máu và tủy và đại thực bào của các hạch bạch huyết, lá lách, phổi, tủy xương, mô liên kết tế bào kupffer (gan) và các cơ quan khác. Ở một số loài có lượng bạch cầu đơn nhân rất thấp trong cơ thể, dẫn đến có thể khó để xác định giảm bạch cầu đơn nhân.
Tăng
5.2.7 Bạch cầu trung tính [Neuts, Segs, N. Seg.]
Các cơ quan bị ảnh hưởng: tủy, dạ dày ruột., tuyến tụy, thận, gan.
Lấy và xử lý mẫu: máu toàn phần (được bảo quản bằng EDTA) có thể được lưu trữ 24 giờ tại nhiệt độ phòng, 48 giờ ở 4°C. Máu mao mạch cũng có thể được sử dụng. Không được dùng heparin.
Các xét nghiệm hỗ trợ: công thức máu toàn phần (CBC), công thức bạch cầu, tỷ lệ M:E.
Phục hồi từ nhiễm trùng cấp tính, bệnh rickettsia và bệnh do nguyên sinh bào.
Lao phổi, giang mai, viêm loét đại tràng, viêm ruột, bệnh bạch cầu đơn nhân, u đa tủy, phục hồi từ thiếu máu bất sản, viêm khớp dạng thấp, bệnh collagen, mô hoại tử
Stress (đặc biệt là ở chó)
Carbon disulfide, phospho, steroid, ACTH và corticosteroid (ở chó)
Giảm
Nói chung không có ý nghĩa lâm sàng
Chấn thương tủy xương, bệnh bạch cầu
Glucocorticoids, ACTH và corticosteroid (ở chuột và người)
Bạch cầu trung tính trưởng thành là bạch cầu chiếm ưu thế trong hầu hết các loài. Bạch cầu trung tính là một loại bạch cầu hạt (những loại khác là bạch cầu ái toan và bạch cầu ưa bazơ. Bạch cầu trung tính có thể thực bào và diệt khuẩn, là tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại sự nhiễm trùng do vi khuẩn. Ở một số loài, đặc biệt là chim, chúng được gọi là heterophils Bạch cầu trung tính chưa trưởng thành có số lượng nhỏ trong máu, nhưng di chuyển sớm để đáp ứng với nhiễm trùng. Tủy lưu trữ nhiều nhóm bạch cầu trung tính trưởng thành (nguồn cung cấp 5 ngày ở chó) cho phép thay thế nhanh chóng. $T_{1/2}$ của bạch cầu trung tính trong dòng tuần hoàn là khoảng 6 giờ.
Số lượng bạch cầu trung tính trong máu phản ánh sự sản xuất bạch cầu trung tính (granulopoiesis), rời đi từ tủy, lão hóa tế bào, bám vào thành mạch và di chuyển vào các mô. Sợ hãi, căng thẳng và giải phóng epinephrine và norepinephrine có thể gây tăng bạch cầu trung tính sinh lý. Sự thay đổi này có thể dẫn đến việc tăng gấp 2 -3 lần bạch cầu trung tính. Điều này có thể dẫn
đến chẩn đoán sai ở động vật không có điều kiện lấy máu tĩnh mạch. Corticosteroid thúc đẩy tủy sản sinh bạch cầu trung tính trưởng thành.
Để đáp ứng với nhiễm trùng, bạch cầu trung tính từ tuần hoàn xâm nhập vào các mô (diapedesis) gây ra giảm bạch cầu ban đầu. Tủy sau đó giải phóng bạch cầu trung tính được lưu trữ ở thành mạch máu. Giảm bạch cầu vẫn tồn tại mặc dù tổng bạch cầu trong máu tăng. Khi nhiễm trùng tiến triển, bạch cầu trung tính được giải phóng, dẫn đến tăng bạch cầu trung tính. Một con vật bị viêm cấp tính sẽ có giảm bạch cầu và dịch chuyển trái (tăng giải phóng bằng bạch cầu trung tính). Một động vật bị viêm mãn tính sẽ tăng bạch cầu trung tính rõ rệt với ít hoặc không có sự nghiêng trái. Bạch cầu trung tính là thành phần chính trong mủ. Nhiễm trùng có thể làm tăng bạch cầu trung tính và sản xuất một lượng lớn histamine.
Tăng:
Giải phóng tủy xương để đáp ứng với các bệnh khác nhau, viêm nhiễm, tổn thương mô, thiếu máu hoại tử cục bộ, viêm đại tràng, viêm tụy, viêm thận, hoại tử gan, bệnh bạch cầu, ung thư
Nóng, lạnh, vận động, đau, bỏng, mang thai, chuyển dạ, chấn thương, sợ hãi.
Giảm
Giai đoạn đầu của nhiễm vi khuẩn, nhiễm trùng quá mức, vi khuẩn, sốc phản vệ, sốc nội độc tố, hoại tử tủy xương
Bệnh u hạt không đầy đủ, thiếu máu bất sản, bệnh bạch cầu, thiếu megaloblastic huyết, thiếu máu do thiếu sắt
Xuất huyết cấp tính, ure huyết, tiểu đường, sản giật
Chấn thương phẫu thuật, cắt lách
Corticosteroid, epinephrine, norepinephrine, histamine, heparin, chì, thủy ngân, ethylene glycol, khí CO
Suy giáp, suy tuyến yên, xơ gan
Oncolytics, thuốc giảm đau, barbiturat, thuốc an thần, thuốc chống trầm cảm, thuốc chống co giật, thuốc chống dị ứng, thuốc kháng sinh, thuốc lợi tiểu.
Tái tạo- dịch chuyển trái do tăng bạch cầu hạt trong tủy xương khỏe mạnh. Có sự gia tăng bạch cầu trung tính chưa trưởng thành, nhưng bạch cầu trung tính trưởng thành nhiều hơn.
Thoái hóa - dịch chuyển trái do ức chế bạch cầu hạt và nhiễm trùng máu, được đặc trưng bởi sự trưởng thành chậm của bạch cầu non, vì vậy số lượng bạch cầu trung tính chưa trưởng thành vượt trội bạch cầu trung tính trưởng thành.
Trong trường hợp bạch cầu nghiêng phải, có một tỷ lệ bạch cầu trung tính già tăng trong máu, các bạch cầu này phân nhiều thùy (5 thùy trở lên). Nó được gây ra bởi corticosteroid, sự thiết hụt folate và vitamin B12, giảm thiểu nguyên bào tuỷ. Sự nghiêng phải được ghi nhận ở người, nhưng hiếm khi ở vật nuôi.
Tăng
Dịch chuyển trái
Sự dịch chuyển sang trái (nghĩa là, tỷ lệ tăng bạch cầu trung tính chưa trưởng thành so với trưởng thành) xảy ra ở đáp ứng với nhiễm trùng cấp tính, nhiễm toan chuyển hóa, nhồi máu cơ tim, khối u ác tính, tan huyết cấp, mất máu nghiêm trọng, bệnh bạch cầu.
Giảm
Việc giảm nói chung không phải là bệnh lý, nhưng nó có thể là kết quả của sự ức chế tủy.
Oncolytics hoặc dịch chuyển sang phải
5.2.9 Tỷ lệ bạch cầu trung tính: bạch cầu lympho [tỷ lệ N: L]
Tỷ lệ bạch cầu trung tính: bạch cầu lympho so sánh sự khác biệt về số lượng của hai loại tế bào bạch cầu chính. Tỷ lệ thay đổi để đáp ứng với bệnh, căng thẳng và tuổi tác. Số lượng tế bào lympho là lớn nhất ở thú non, sau đó giảm dần theo tuổi. Vì số lượng bạch cầu trung tính vẫn khá ổn định theo thời gian, điều này có nghĩa là tỷ lệ N: L là thấp nhất ở thú non và tăng theo tuổi.
Tỷ lệ bạch cầu ở động vật có thể bị chẩn đoán sai vì sự sợ hãi của con thú trong quá trình lấy máu. Các loài phản ứng khác nhau với stress, gây ra giảm bạch cầu lympho và tăng bạch cầu trung tính, tuy nhiên ở chuột và thỏ có số lượng tế bào lympho cao. Stress làm cho tế bào lympho giảm nhiều hơn bạch cầu trung tính.
Tỷ lệ N: L có thể được biểu thị bằng phần trăm chênh lệch (60:40), hoặc
tỷ lệ (1,5: 1) hoặc một số duy nhất (1,5).
Bảng 5.2 cho thấy sự khác biệt giữa các loài.
Species Ratio Species Ratio Cat 1.8 Horse (cold-blooded) 1.7 Cattle 0.5 Horse (aged) 2.0 Dog 3.5 Human 1.5 Donkey 1.1 Monkey (newborn) 3.2 Goat (newborn) 1.6 Monkey (unconditioned) 0.4 Goat (1 week) 0.8 Monkey (conditioned) 1.3 Goat (1 month) 0.6 Mice (marked variance in cell counts due to diurnal, strain, and sex differences) Goat (3 months) 0.3 Mule 1.1 Goat (>2 years) 1.1 Pig (1 week) 1.0 Guinea pig (<30 day ♂/♀) 0.4/0.3 Pig (6 months) 1.2 Guinea pig (90 day ♂/♀) 0.5/0.4 Rabbit (2 months) 0.6 Guinea pig (1 year ♂/♀) 0.3/0.3 Rabbit (>1 year) 1.0 Guinea pig (2 year ♂/♀) 0.5/0.4 Rat (Sprague-Dawley) Hamster (1 month) 0.5 (1 month ♂/♀) 0.2/0.2 Hamster (6 months) 0.3 (1 year ♂/♀) 0.5/0.4 Hamster (12 months) 0.4 Rat (Long-Evans) Horse (day 1) 2.8 (1 month ♂/♀) 0.2/0.2 Horse (<2 month hot-blooded) 1.5 (1 year ♂/♀) 0.6/0.3 Horse (young hot-blooded) 1.1 Sheep 0.5 Horse (yearling hot-blooded) 0.9 5.2.8 Bạch cầu trung tính non
Các cơ quan bị ảnh hưởng: tủy, dạ dày ruột, tuyến tụy, thận, gan.
Lấy và xử lý mẫu: máu toàn phần (được bảo quản bằng EDTA) có thể được lưu trữ 24 giờ tại phòng nhiệt độ, 48 giờ ở 4°C. Máu mao mạch cũng có thể được sử dụng. Không sử dụng heparin.
Các xét nghiệm hỗ trợ: công thức máu toàn phần(CBC), công thức bạch cầu, tỷ lệ M:E.
Brand neutrophils còn được gọi bạch cầu trung tính non hoặc chưa trưởng thành. Một số lượng nhỏ bạch cầu trung tính non luôn luôn được tìm thấy trong máu. Bất cứ khi nào có nhiễm trùng sẽ kích thích tủy xương để giải phóng nhiều bạch cầu trung tính hơn và tăng số lượng bạch cầu trung tính chưa trưởng thành giải phóng vào máu. Điều này được gọi là một left shift (nghiêng trái). Khi các tế bào chưa trưởng thành được giải phóng càng nhiều, dẫn đến sự thay đổi nghiêng trái nghiêm trọng hơn. Mức độ dịch chuyển trái có thể được xác định như sau:
Nhẹ – sự xuất hiện của bạch cầu trung tính chưa trưởng hành.
Trung bình - sự xuất hiện nhiều bạch cầu trung tính chưa trưởng thành và một số bạch cầu trung tính hậu tủy
Nặng – sự xuất hiện nhiều tế bào tủy và một số tế bào tiền tủy
Rất nặng – sự xuất hiện tế bào máu non.
Sự thay đổi dịch chuyển trái có thể là tái tạo hoặc thoái hóa:
5.3 Sự đông máu
5.3.1 Thời gian Thromboplastin hoạt hóa từng phần [APTT, aPTT, PTT]
Các cơ quan bị ảnh hưởng: gan, tủy, lách, dạ dày ruột.
Lấy và xử lý mẫu: máu toàn phần (được bảo quản bằng oxalate hoặc natri citrate) là ngay lập tức ly tâm để tách huyết tương. Huyết tương có thể được lưu trữ 1h ở 4°C, 28 ngày tại nhiệt độ -20°C.
Các xét nghiệm hỗ trợ: số lượng tiểu cầu, thời gian prothrombin, fibrinogen, thời gian chảy máu, các yếu tố đông máu.
Thời gian thromboplastin hoạt hóa từng phần (APTT) được sử dụng để đánh giá sự đông máu thông qua các yếu tố của con đường đông máu nội sinh và để theo dõi liệu pháp heparin. Việc bổ sung phospholipid, canxi và chất kích hoạt (silicat, cao lanh, celite hoặc axit ellagic) để đảm bảo huyết tương giữ được bản chất. APTT là thời gian cần thiết để một cục máu đông hình thành.
Tăng
Giảm nồng độ của các yếu tố đông máu VIII, IX, XI, XII, prekallikren, cao trọng lượng phân tử kininogen và fibrinogen (yếu tố I) trong huyết tương.
Rối loạn đông máu, nhiễm trùng huyết, đông máu rải rác nội mạch lan tỏa (DIC)
Thuốc chống đông máu, thuốc giảm đau
Giảm
Không có ý nghĩa lâm sàng
Tăng yếu tố đông máu cấp VIII
5.3.2 Thời gian chảy máu [BT]
Các cơ quan bị ảnh hưởng: tủy, gan, lách, dạ dày ruột.
Các xét nghiệm hỗ trợ: số lượng tiểu cầu, thời gian prothrombin, thời gian thromboplastin hoạt hóa từng phần, fibrinogen, các yếu tố đông máu.
Thời gian chảy máu là một phép đo thời gian cầm máu. Đó là thời gian cần thiết cho chảy máu để ngừng theo vết rạch da có kiểm soát của vị trí đùi trong, môi hoặc chóp tai. Đây chủ yếu để đánh giá chức năng tiểu cầu và chẩn đoán bệnh von Willebrand.
Tăng
Giảm tiểu cầu, chức năng tiểu cầu bất thường, urê huyết, toan chuyển hóa, mao mạch mỏng, tổn thương mạch máu, bệnh von Willebrand
Vàng da tắc mật, thiếu vitamin K
Coumarin, warfarin, aspirin, thuốc chống viêm không steroid, ibuprofen, penicillin G
Giảm
Không có ý nghĩa lâm sàng
5.3.3 Thời gian prothrombin [PT]
Các cơ quan bị ảnh hưởng: gan, dạ dày ruột, tủy, gan, lách.
Lấy và xử lý mẫu: máu toàn phần (được bảo quản bằng natri citrat theo tỷ lệ 9:1) có thể được lưu trữ 2 giờ ở nhiệt độ phòng, 4 giờ ở 4°C.
Các xét nghiệm hỗ trợ: thời gian thromboplastin hoạt hóa từng phần, số lượng tiểu cầu, fibrinogen, thời gian chảy máu, các yếu tố đông máu.
Thời gian prothrombin được sử dụng để đánh giá quá trình đông máu thông qua các yếu tố của con đường ngoại sinh và để theo dõi điều trị warfarin. Canxi và yếu tố mô (yếu tố III) được thêm vào huyết tương để kích hoạt con đường ngoại sinh. PT là thời gian cần thiết cho một huyết khối để hình thành.
Tăng
Giảm nồng độ các yếu tố đông máu I (fibrinogen), II (prothrombin), V, VII hoặc X trong huyết tương.
Thiếu vitamin K (có thể là do chấn thương dạ dày ruột.)
Bệnh gan, tổn thương gan nặng vàng da, đông máu nội mạch
Acetaminophen, kháng sinh, warfarin, aspirin, oncolytics, ethanol, halothane, heparin
Giảm
Không có ý nghĩa lâm sàng
Epinephrine được tiêm hoặc giải phóng khi bị stress, gây ra co thắt lách và giải phóng tiểu cầu, làm số lượng tiểu cầu tăng lên. Khoảng 30 - 40% tiểu cầu được lưu trữ trong lách và có thể đến 90% được lưu trữ trong lách triển dưỡng. Tiểu cầu vỡ và tiểu cầu bị hư hại sẽ bị loại bỏ bởi lách, gan và tủy xương. Tiểu cầu duy trì cầm máu.
Tăng tiểu cầu
Rối loạn tăng sinh tủy (ví dụ như bệnh đa hồng cầu, bệnh bạch cầu tủy, bệnh bạch cầu tiểu cầu, bệnh ác tính), bệnh viêm nhiễm,
cắt lách, teo lách
cắt lách, teo lách.
Xơ cứng tủy, bệnh tim, xơ gan, viêm tụy mãn tính, thiếu máu do thiếu sắt, độ cao, thiếu oxy, mang thai, kinh nguyệt, xuất huyết, vận động.
Bù đắp quá mức sau giảm tiểu cầu
Epinephrine và oncolytics
Giảm tiểu cầu
Chấn thương với xuất huyết ồ ạt, tổn thương tủy xương, thiếu máu bất sản, thiếu nguyên tủy bào bẩm sinh
Kinh nguyệt, mang thai bình thường, bệnh bạch cầu, đóng cục tiểu cầu, phá hủy quá mức (ví dụ: bệnh tự miễn), rối loạn bẩm sinh Filovirus (ví dụ, Ebola, Marburg) và arbovirus ở loài linh trưởng
Đóng cục trong quá trình lấy mẫu
Oncolytics và thuốc giảm đau (aspirin, acetaminophen, codein, phenacetin, v.v.), estrogen, thalidomide.
5.4 Tủy xương
Tỷ lệ Myeloid: Erythroid [Tỷ lệ M:E]
Các cơ quan bị ảnh hưởng: tủy, thận, đường dạ dày ruột.
Lấy và xử lý mẫu: tủy được thu thập từ động vật khi sống hoặc trong vòng vài giờ chết. Tủy được trộn với nước muối và EDTA.
Xét nghiệm hỗ trợ: công thức máu toàn phần (CBC), công thức bạch cầu, mô bệnh học tủy xương, nuôi cấy tủy xương trong ống nghiệm.
Tủy xương được đánh giá dựa vào tỷ lệ các yếu tố myeloid (promyelocytes, myelocytes, metamyelocytes, ban bạch cầu hạt và bạch cầu hạt phân đoạn) và yếu tố hồng cầu (prorubricytes, rubricytes và metarubricytes). Đánh giá được thực hiện bằng cách kiểm tra vết phết tế bào tủy xương bằng kính hiển vi hoặc
5.3.4 Tiểu cầu [Thromb, plate]
Các cơ quan bị ảnh hưởng: tủy, tim, gan, tụy, lách.
Xử lý mẫu bệnh phẩm: máu toàn phần (được bảo quản bằng EDTA) có thể được lưu trữ 5 giờ tại nhiệt độ phòng, 24 giờ ở 4°C. Máu mao mạch cũng có thể được sử dụng.
Các xét nghiệm hỗ trợ: công thức máu toàn phần (CBC), tỷ lệ M:E, thời gian prothrombin, thời gian thromboplastin hoạt hóa từng phần, fibrinogen, thời gian chảy máu.
Tiểu cầu động vật có vú có nguồn gốc từ sự phân mảnh của tế bào chất megakaryocytes hình thành trong tủy xương. Tiểu cầu lớn là một dấu hiệu của sự gia tăng sản xuất tủy, trong khi tiểu cầu nhỏ được nhìn thấy trong giảm tiểu cầu vô căn. Metakaryocytopoiesis được kích thích bởi thrombopoietin, được sản xuất ở thận và bị ức chế bởi một yếu tố được tạo ra trong lách.
bằng kỹ thuật đếm tế bào dòng chảy. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng tỷ lệ M:E có thể xuất hiện bình thường trong trường hợp khi cả hai thành phần M và E trong tủy đều tăng hoặc giảm.
Tăng
Tăng sản xuất tủy, hoặc giảm sản xuất hồng cầu
Hầu hết các bệnh nhiễm trùng, bệnh bạch cầu lympho, bệnh bạch cầu dòng tủy, giảm nRBC, bệnh thận.
Giảm
Tăng các yếu tố hồng cầu hoặc giảm các yếu tố myeloid
- Thiếu máu ác tính, phục hồi từ thiếu máu thiếu sắt, xuất huyết, tan máu, viêm loét đại tràng gây mất máu



