Chăm sóc Pet cưng

Nguyên tắc cơ bản trong Bệnh lý lâm sàng Thú y ( Phần 7 )

Nguyên tắc cơ bản trong Bệnh lý lâm sàng Thú y ( Phần 7 )

CHƯƠNG 7 CHẨN ĐOÁN PHÂN TÍCH NƯỚC TIỂU

Tóm tắt: ba chương chẩn đoán- sinh lý máu, sinh hóa lâm sàng và phân tích nước tiểu, được mong đợi sẽ chứa nhiều thông tin cũng như được sử dụng nhiều nhất trong cuốn sổ tay này. Có rất nhiều thông tin hữu ích được cô đọng lại trong ba chương. Khi dữ liệu bệnh lý lâm sàng của con vật được đánh giá và các giá trị bất thường trong các bảng tham chiếu được xác định, các chương này có thể giúp chúng ta nhận biết được đâu là các dấu hiệu bất thường. Bên cạnh tên của mỗi tham số là các chữ viết tắt của nó. Đối với mỗi tham số, có một danh sách các cơ quan có thể bị ảnh hưởng, thông tin xử lí mẫu và những xét nghiệm bổ trợ có thể giúp xác nhận chẩn đoán. Có một hướng dẫn ngắn gọn kèm theo mỗi tham số bao gồm các điểm mạnh và điểm yếu và những thông tin cần lưu ý khác. Bên cạnh mũi tên lên và xuống là những chẩn đoán có khả năng khi các tham số tăng hoặc giảm. Khi đó một tên gọi cho sự tăng hoặc giảm (ví dụ: tăng niệu hoặc giảm niệu), cũng sẽ được cung cấp. Thông tin chẩn đoán được cung cấp cho 13 xét nghiệm phân tích nước tiểu.

Chức năng chính của thận là bài tiết chất thải đã chuyển hóa (ure, các chất điện giải, creatinin, huyết sắc tố và sản phẩm phụ hoocmon) và các chất độc hại khác từ máu. Thận là chìa khóa của sự cân bằng nội mô toàn cơ thể bao gồm việc điều chỉnh pH máu trong phạm vi rất hạn hẹp, áp lực động mạch, thể tích máu, lượng nước và chất điện giải. Không có gì phải ngạc nhiên khi 22% lượng máu đi từ tim của một con vật lại chảy đến thận trong giai đoạn nghỉ. Thận cũng sản xuất một vài hoocmon. Đáng chú ý nhất là thận trải qua quá trình giảm oxy huyết sẽ giải phóng erythropoietin (EPO) để kích thích tủy xương sản xuất ra nhiều hồng cầu. Đặc tính của nước tiểu là kết quả của ba chức năng thận:

  • Sự lọc cầu thận- là một quá trình được điều tiết chủ yếu bằng áp suất thủy tĩnh. Các chất có trọng lượng phân tử >68,000

g/mol (ví dụ: tế bào, lipoprotein và hầu hết các protein) không thể đi qua cầu thận.

  • Sự tái hấp thu ở ống thận- các hợp chất hữu ích (ví dụ: glucose, nước, chất điện giải, các amino acid và vitamin) được tái hấp thu hiệu quả từ dịch lọc của cầu thận qua các ống thận.

  • Sự bài tiết của ống thận-sự cân bằng nội mô trong cơ thể được duy trì bằng sự bài tiết nước, các chất điện giải và các chất khác trong ống thận.

Thời gian, tính kiềm, ánh sáng, axit, kiềm, độ ẩm, thuốc và nhiệt độ cao có thể làm cho các phép đo phân tích nước tiểu bị lỗi. Nước tiểu được chứa trong bàng quang trong vài giờ có thể khác với nước tiểu mới được hình thành ở độ pH, tế bào, trụ niệu, tinh thể và sự phát triển của vi khuẩn. Độ pH trong nước tiểu được lưu trữ tăng (ví dụ: kiềm hóa) là do vi khuẩn sản xuất urea và sự thoát CO2 đã phân hủy. Sự kiềm hóa thúc đẩy sự phân giải tế bào máu và trụ niệu cũng có thể ảnh hưởng đến các tinh thể. Phân giải tế bào có thể xảy ra trong nước tiểu với tỉ trọng nước tiểu < 1.008. Lí tưởng nhất, mẫu nên được phân tích trong vòng 30 phút. Nitrat trong nước tiểu từ các chất được chuyển hóa trong thức ăn thành nitrite bởi vi khuẩn trong đường tiết niệu. Nhiễm vi khuẩn có thể dẫn đến tăng hàm lượng nitrite.

Hàm lượng nước tiểu bị ảnh hưởng bởi chế độ dinh dưỡng, lượng nước đưa vào cơ thể, hoạt động và nhiệt độ cơ thể. Nước tiểu buổi sáng thì thường cô đặc hơn, thường chứa tế bào, trụ niệu và các thành phần bất thường, nhưng nó không bị ảnh hưởng bởi hoạt động hay ăn uống. Nước tiểu bình thường có thể từ vàng nhạt đến vàng đậm. Nước tiểu sẫm màu thì bình thường, nhưng không phải luôn luôn, cô đặc hơn. Một số thực phẩm có thể ảnh hưởng đến màu sắc của nước tiểu như cà rốt, quả mâm xôi, củ cải đường và đại hoàng. Thuốc có thể đổi màu nước tiểu bao gồm Chloroquine, thuốc bổ sung sắt, levodopa, riboflavin, nitrofurantoin, phenazopyridine, phenothiazines, phenytoin, và triamterene. Độ vẩn đục hay độ đục biểu thị sự xuất hiện của 

tinh thể, tế bào, dịch nhầy, vi khuẩn, trụ tế bào hay dịch từ đường sinh dục. Nước tiểu mèo có khuynh hướng đục vì sự hiện diện của các hạt chất béo. Que thử là một phương pháp đơn giản để đánh giá nhiều tham số bao gồm tỉ trọng nước tiểu, pH, protein, glucose, ketone, bilirubin, urobilinogen, bạch cầu, nitrite và huyết sắc tố.

7.1 Bilirubin[Bili]

Những cơ quan bị ảnh hưởng: gan, hồng cầu, tủy. Lấy và xử lý mẫu: nước tiểu mới lấy tự do có thể lưu trữ trong vòng 24 giờ ở 4 °C xa ánh mặt trời. Xét nghiệm hỗ trợ: huyết thanh bilirubin liên hợp, ALT, ALP, AST, axit mật, GGT, 5'-NT.

Bilirubin là sản phẩm phân hủy của huyết sắc tố. Dạng bilirubin được tìm thấy trong nước tiểu là bilirubin liên hợp (trực tiếp). Nó hòa tan trong nước và có thể di chuyển tự do qua cầu thận mà không bị tái hấp thu. Bilirubin không liên hợp (gián tiếp) thì không có trong nước tiểu. Khi lắc nước tiểu mới, bọt màu vàng-xanh hoặc nâu cho thấy sự xuất hiện của bilirubin. Nước tiểu bình thường có một ít bọt trắng khi lắc.

Nồng độ của bilirubin liên hợp trong nước tiểu biểu lộ tình trạng tắc nghẽn ống mật bên trong và ngoài gan. Bệnh gan có lẽ đã xuất hiện rõ rệt trước khi xảy ra bilirubin niệu. Hàm lượng bilirubin trong nước tiểu luôn phải được so sánh với bilirubin trong huyết thanh. Tăng bilirubin huyết thanh thường xảy ra trước khi tăng bilirubin niệu nhưng không đặc hiệu trên chó.

Bilirubin thường không tìm thấy trong nước tiểu của ngựa, heo hoặc cừu; nhưng nó thì được tìm thấy trong nước tiểu mèo ở bệnh lý gan. Một ít bilirubin niệu thì bình thường ở loài nhai lại và một vài loài chó. Nước tiểu khi tiếp xúc với ánh sáng có thể dẫn đến âm tính giả bởi vì sự chuyển đổi quang điện tử thành biliverdin. Nếu sự đo lường không thể thực hiện được trong vòng 30 phút, mẫu cần phải được bảo quản lạnh trong tối. Bilirubin 

niệu hiếm thấy ở mèo.

Tăng: -Nghẽn ống mật trong và ngoài gan, tăng huyết thanh bilirubin trực tiếp, viêm gan, tổn thương tế bào gan (đang phát triển), phá hủy hồng cầu bất thường, thiếu ăn/quá đói, sốt, giảm bạch cầu mèo. -Phenothiazines (liều cao), salicylates, truyền máu

Giảm: ascorbic acid, nitrites

7.2 Màu sắc/Color

Những cơ quan bị ảnh hưởng: thận, tụy, tuyến thượng thận.

Lấy và xử lý mẫu: sử dụng ước tiểu mới được lấy tự do. Nước tiểu nên được đánh giá nhanh chóng vì màu sắc có thể thay đổi khi không chảy.

Xét nhiễm hỗ trợ: độ vẩn đục, tỉ trọng nước tiểu, huyết thanh bilirubin trực tiếp, ALT, ALP, AST, axit mật, GGT, 5'-NT.

Màu sắc của nước tiểu có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bao gồm thức ăn, độ cân bằng dịch, bệnh lý và thuốc. Màu sắc nước tiểu bình thường từ vàng sáng (thực tế không màu) đến hổ phách đậm tùy thuộc vào lượng sắc tố vàng mà nó chứa. Khi nước tiểu chuyển sang màu nhạt khi pha loãng và đậm khi cô đặc, điều này không phải lúc nào cũng đúng. Cách chắc chắn duy nhất để đánh giá nồng độ nước tiểu là đo tỉ trọng nước tiểu. Màu sắc bất thường đỏ hoặc xanh lá cây biểu thị sự hiện diện của máu, sắc tố mật, thuốc sắc tố hoặc sản phẩm phân hủy của chúng. Nước tiểu có thể thay đổi màu sắc nếu không chảy. Nước tiểu đục, do dịch nhầy và canxi carbonate, là bệnh lý chỉ ngoại trừ ở ngựa. Nước tiểu mèo thì sậm màu khi bị hoàng đản. Nước tiểu bình thường ở thỏ từ vàng đến đỏ/nâu. Loài gặm nhấm có nước tiểu sậm màu thể gây trở ngại đối với kĩ thuật so màu.

Vàng nhạt - nước tiểu được pha loãng và thường có tỉ trọng thấp do sự tăng tiêu thụ nước, đái tháo nhạt, độc thận (giai đoạn lợi 

tiểu), hư thận, tăng thoái hóa tinh bột, tăng năng tuyết thượng thận, viêm bể thận, viêm thận nguyên phát, viêm tử cung, truyền dịch tĩnh mạch, sử dụng corticosteroids hayACTH.

Vàng đậm- nước tiểu có nồng độ sắc tố vàng cao, thường có tỉ trọng cao và cô đặc do mất nước, sốt, độc thận, bệnh thận giai đoạn cuối, huyết áp thấp, rối loạn chức năng tuần hoàn.

Vàng sang - đáp ứngvitamin B

Vàng nâu (sủi bọt khi lắc) – bilirubin và sắc tố vàng.

Nâu sẫm/đen - máu, huyết sắc tố (nước tiểu thì trong mờ), myoglobin niệu, melanin từ khối u ác tính.

Đỏ/nâu-huyết sắc tố (nước tiểu trong mờ), tiểu máu (hồng cầu trong nước tiểu làm cho nước tiểu đục), myoglobin niệu (nước tiểu thì trong mờ), màu thực phẩm (cà rốt, mâm xôi, củ cải đường, cây đại hoàng), phenolphthalein, phenothiazine, azosulfamide, urates, mật, chuyển hóa thuốc.

Xanh lá/xanh dương- sự oxi hóabilirubin thành biliverdin trong các mẫu được bảo quản kém, chuyển hóa thuốc, xanh methylene,acriflavine, dithiazanine iodide.

Đục trắng- quá nhiều axit oxalic và axit glycolic trong nước tiểu.

7.3 Glucose [GLU, Gluc]

Những cơ quan bị ảnh hưởng: tuyến tụy, thận, tuyến thượng thận.

Lấy và xử lý mẫu: nước tiểu nên được trữ trong hộp tối và trong đá lạnh. Nó có thể được lưu trữ trong vòng 24 giờ khi pha cùng với 5ml axit glacialacetic hoặc 5g sodiumbenzoate hoặc sodium fluoride. Mẫu phải được đo ở nhiệt độ phòng.

Yếu tố ảnh hưởng: ascorbic acid, bilirubin, ketones, fluoride, hoặcformaldehyde

Xét nghiệm hỗ trợ: glucose huyết thanh, ALT, ALP, AST, axit 

mật, 5'-NT,urobilinogen, BUN, creatinine, lipase, amylase, glucose,Ca.

Glucose không nên tồn tại trong nước tiểu. Glucose có thể dễ dàng đi qua cầu thận nhưng được tái hấp thu hoàn toàn trong ống lượn gần, thậm chí khi thận bị tổn thương. Que thử đo màu thường được sử dụng để phát hiện và xác định glucose. Các phép đo chỉ thị màu bị lỗi có thể do sự xuất hiện của axit ascorbid trong nước tiểu chó, bilirubin, ketones, fluoride, hayformaldehyde.

Lưu ý: glucose cũng được đo trong huyết thành hay huyết tương (xem chương 6: chẩn đoán sinh hóa lâm sàng)

Tăng: -Bệnh thận hay tổn thương thận, giảm hấp thu ở ống thận, khẩu phần chứa nhiều carbohydrate, tăng đường huyết, đái tháo đường không kiểm soát viêm tụy cấp, tăng năng tuyến giáp trạng, bệnh gan mãn tính, sốt sữa ở thú nhai lại, tăng sản vỏ thượng thận,sợ hãi, hưng phấn, bị cầm cột.

  • Truyền dịch glucose tĩnh mạch/I.V

  • Corticosteroids, ACTH, D-thyroxine, morphine, glucagon, lợi tiểu, penicillin, tetracycline, streptomycin, chlortetracycline, chloramphenicol, lactose, maltose, pentose, ascorbic acid, salicylates, EDTA, kim loại nặng.

Giảm: không có ý nghĩa lâm sàng.

7.4 Huyết sắc tố/Hemoglobin [Hb, HGB, Hgb]

Cơ quan bị ảnh hưởng: hệ máu, thận và da.

Lấy và xử lý mẫu: nước tiểu mới được lấy tự do nên kiểm tra ngay lập tức. Sự phân giải hồng cầu trong nước tiểu có thể dẫn đến kết quả sai.

Xét nghiệm hỗ trợ: BUN, creatinine, hình thái hồng cầu (tế bào ma), pH nước tiểu, đếm công thức máu.

Huyết sắc tố trong nước tiểu, là tăng lượng huyết sắc 

tố/hemoglobin trong nước tiểu, thường chỉ ra bệnh hệ thống hoặc ngộ độc dẫn đến tán huyết nội mạch. Nó không nên bị nhầm lẫn với tiểu máu, đó là máu trong nước tiểu do bệnh ở đường tiết niệu. Tuy nhiên, hồng cầu bị pha loãng hoặc nước tiểu kiềm hóa có thể bị phân giải, giải phóng huyết sắc tố của chúng và để lại tế bào hồng cầu ma.

LƯU Ý: huyết sắc tố cũng được đo lường trong máu (xem chương 5: chẩn đoán sinh lý)

Tăng:

  • Tan máu nội mạc, tiểu máu, mang thai, phỏng nặng, tán huyết miễn dịch, phản ứng truyền máu, nhồi máu thận, giảm tiểu cầu huyết khối, xuất huyết (bầm tím), trực khuẩn gây huyết sắc tố trong nước tiểu (ở bò, cừu và thỉnh thoảng ở chó).

  • Sulfonamides, quinine, phenylhydrazine, tán huyết

  • Ngộ độc đồng, đậu fava, độc rắn và nhện.

7.5 Ketones

Cơ quan bị ảnh hưởng: tụy, dạ dày ruột, tuyến yên.

Lấy và xử lý mẫu: nước tiểu được lưu trữ trong một hộp kín và làm lạnh để tránh sự phân hủy của vi sinh vật và mất acetone.

Xét nghiệm hỗ trợ: bảng tiểu đường, bảng mỡ.

Các ketone (thể ketone) được tìm thấy trong nước tiểu bao gồm axit acetoacetic, acetone và axit beta-hydroxybutyric, là chất trung gian của chuyển hóa lipid. Axit acetoacetic và acetone được phát hiện bằng dải thuốc thử nước tiểu nhưng axit beta-hydroxybutyric thì không. Các thể ketone được lọc bởi các cầu thận và gần như hấp thụ lại hoàn toàn bởi các ống thận. Nồng độ ketone trong nước tiểu tăng không phải là dấu hiệu của tổn thương thận, mà là vượt quá ngưỡng tái hấp thu ở ống thận. Nồng độ ketone tăng sớm trong nước tiểu hơn trong máu. Keton niệu, nồng độ ketone trong nước tiểu tăng cao, thường là do đái 

tháo đường, đói, hoặc chế độ ăn nhiều chất béo và ít carbohydrate. Acetone thường có thể được ngửi trong hơi thở ra.

Tăng:

  • Đái tháo đường, nhiễm toan đái tháo đường không kiểm soát được, bỏ đói, nhịn ăn kéo dài (hạ đường huyết ketotic), lượng carbohydrate/ chất béo bình thường thấp, chế độ ăn nhiều chất béo, nôn mửa liên tục, tăng tỷ lệ trao đổi chất, quá nhiều hoocmon phát triển, corticotropin hay glucocorticoids, tăng insulin trong máu, dư thừa catecholamines gây tăng đường huyết, giảm bài tiết insulin, bệnh khi mang thai ở cừu, ketosis ở bò đang cho con bú.

  • Aspirin, alcohol, tiêm sulfobromophthalein /BSP injection

Giảm: không có ý nghĩa trong lâm sàng.

7.6 Máu trong nước tiểu/Occult Blood in Urine

Cơ quan bị ảnh hưởng: thận, hệ tiết niệu, cơ xương.

Lấy và xử lý mẫu: sử dụng nước tiểu mới được lấy tự do. Nước tiểu nên được kiểm tra nhanh để giảm thiểu sự phân giải hồng cầu. Nếu pH nước tiểu không thể đo ngay lập tức, nó có thể được trữ trong hộp với nhiệt độ 4°C. Sự trở ngại: sự xuất hiện của huyết sắc tố từ sự phân giải hồng cầu.

Xét nghiệm hỗ trợ: huyết sắc tố trong huyết tương, hình thái hồng cầu (tế bào ma), myoglobin trong nước tiểu, pH trong nước tiểu.

Sự xuất hiện của hồng cầu bị phân giải, huyết sắc tố và myoglobin trong nước tiểu sẽ cho kết quả dương tính trong xét nghiệm sự hiện diện của máu. Que thử nước tiểu thường được sử dụng để phát hiện huyết sắc tố hoặc myoglobin. Một xét nghiệm dương tính nên được theo sau bằng phép đo huyết sắc tố tự do 

trong huyết tương. Nếu không tìm thấy huyết sắc tố tự do trong huyết tương thì kết quả dương tính có thể được quy cho myoglobin trong nước tiểu. Các xét nghiệm bị lỗi có thể xảy ra khi nước tiểu được cố định quá lâu vì hồng cầu bị tán huyết và giải phóng huyết sắc tố. Đây là một vấn đề đặc thù xảy ra với nước tiểu bị kiềm hóa.

Dương tính

  • Tổn thương ở thận hay ống tiết niệu, đặt ống thông bàng quang, khối u, viêm cầu thận, sỏi thận, nhiễm trùng cấp, lao, nhồi máu.

  • Huyết sắc tố niệu (do tán huyết trong động mạch và tán huyết miễn dịch)

  • Myoglobin niệu (do tổn thương cơ, bệnh ở cơ do gắng sức trên ngựa)

  • Salicylates, sulfonamides, tiêu u, kháng đông.

Âm tính không có ý nghĩa trên lâm sàng.

7.7 pH

Cơ quan bị ảnh hưởng: thận, bàng quang, tụy, dạ dày ruột.

Lấy và xử lý mẫu: sử dụng nước tiểu mới được lấy tự do. Nếu pH nước tiểu không thể được đo ngay lập tức, nước tiểu có thể được lưu rữ trong hộp với một ít khí ở nhiệt độ 4°C.

Xét nghiệm hỗ trợ: ketone, bảng tiểu đường, K, Na, Cl, Ca.

Độ pH của nước tiểu có thể chạy từ 4 (axit mạnh) đến 7(trung hòa) và 9 (kiềm mạnh). Nước tiểu đọng lại sẽ có tính bazơ bởi vì mất đi CO2 và vi khuẩn sản xuất amoniac từ ure. Thận điều chỉnh pH máu bằng cách tiết ra bicacbonate, ion ammonium vàphosphat. Dinh dưỡng, thời điểm trong ngày và bệnh hệ thống ảnh hưởng đến pH trong nước tiểu. Việc động vật ăn protein động vật hoặc chế độ ăn ngũ cốc thì nước tiểu có tính axit là bình thường, trong khi động vật ăn trái cây và rau quả có nước tiểu kiềm. Một con vật đang cho con bú sẽ luôn luôn có nước tiểu  

axit. pH nước tiểu biểu lộ nhiều về tình trạng trao đổi chất của từng cá thể và bệnh hệ thống hơn là thận. Lưu ý: pH trong máu cũng được đo lường (xem chương 6: chẩn đoán sinh hóa lâm sàng).

Tăng:

  • Chế độ ăn axit (ví dụ: trái cây và rau), nhiễm kiềm hô hấp.

  • Nôn kéo dài, nhiễm trùng đường tiết niệu, nhiễm kiềm hô hấp.

  • Ống thận, nước tiểu bị giữ lại trong bàng quang do viêm bàng quang hoặc tắc nghẽn.

  • Epinephrine, potassium citrate, sodium citrate, sodium bicarbonate, sodium lactate, nitrate.

Giảm:

  • Khẩu phần chứa nhiều protein động vật, ngũ cốc hoặc sốt, ngộ độc, nhiễm axit chuyển hóa, nhiễm toan chuyển hóa (với sự suy giảm kali), nhiễm axit hô hấp, đói khát.

  • Đái tháo đường, nhiễm khuẩn đường niệu, sốt, tiêu chảy nghiêm trọng, keto niệu, bí tiểu.

  • Sodium chloride, ammonium chloride, calcium chloride, sodium acid phosphate, ascorbic acid, corticotropin.

7.8 Cặn lắng

Cơ quan bị ảnh hưởng: thận, gan, xương, đường sinh dục, tim, tuyến giáp, tuyến tụy.

Lấy và xử lý mẫu: nước tiểu mới lấy ngẫu nhiên nên được kiểm tra ngay lập tức, nhưng nó có thể được bảo quản với 1 giọt formalin nồng độ 40% / 10mL hoặc 1 tinh thể thymol / 10-15mL. Can thiệp: Thymol can thiệp vào xét nghiệm kết tủa axit protein. Nước tiểu không được làm lạnh.

Xét nghiệm hỗ trợ: tỉ trọng của nước tiểu và pH, BUN, creatinine, bảng điều trị tiểu đường, ALP-2 isoenzyme (xương). 

axit uric, tổng protein niệu.

Kiểm tra bằng kính hiển vi của cặn nước tiểu có thể phát hiện nhiều loại tế bào và các vật liệu khác bao gồm: trụ niệu, hồng cầu, bạch cầu, tế bào biểu mô ống, tế bào bàng quang, tế bào ký sinh trùng, nấm men, tế bào u, tinh thể. Chúng được mô tả dưới đây cùng với các chẩn đoán có khả năng.

Không có phương pháp tiêu chuẩn hóa cho các lần kiểm tra này, nhưng thông thường, một mẫu nước tiểu được ly tâm và tất cả bị lấy bỏ trừ 0,5ml chất nổi trên bề mặt. Chất lắng đọng ở đáy ống được khuấy cùng với phần nổi phía trên còn lại và một vài giọt được đặt trên một phiến kính và phủ lên trên một nắp chống trượt. Hầu hết các cặn nước tiểu là không màu nhưng nhuộm có thể được sử dụng để hỗ trợ nhận dạng tế bào. Độ phóng đại điển hình là 100 x cho trụ niệu, tinh thể và tế bào; và 400 x cho các tế bào và vi khuẩn.

Vi khuẩn - vi khuẩn gram âm thì thường được tìm thấy trong nhiễm trùng ống niệu đạo. Nhiễm trùng thì được chỉ định khi có quá nhiều vi khuẩn trong nước tiểu được thu thập một cách vô trùng thông qua chọc bàng quang hoặc đặt ống thông.

Chẩn đoán: nhiễm trùng đường niệu, viêm bàng quang viêm bể thận, nhiễm trùng nước tiểu do nhiễm trùng đường sinh dục.

Trụ niệu - là vật chất ống hình trụ mà được hình thành ở các tiểu quản xa và các ống góp cũng như ống lượn gần của quai Henle nơi mà hầu hết nước tiểu sẽ được cô đặc và có tính axit. Chúng hình thành trước khi được xả vào nước tiểu. Chúng có thể có hình dạng của ống thận, mờ mờ hoặc các chất sáp, hoặc protein. Có hai loại trụ niệu chính là Hyaline và tế bào. Trụ Hyaline chứa protein và mucoprotein và chỉ định cho protein niệu. Một số trụ hyaline được tìm thấy ở thú khỏe mạnh, đặc biệt là sau khi vận động quá sức. Trụ tế bào chứa các tế bào thoái hóa. Sự hiện diện của hơn 2 trụ trên mỗi trường năng lượng thấp (LPF) có thể được  

coi là trụ niệu và sự hiện diện của nhiều trụ niệu là dấu hiệu của bệnh thận. Các trụ niệu sẽ giảm trong nước tiểu nhược trương (pha loãng). Các trụ niệu từ từ hòa tan trong nước tiểu kiềm. Mỗi loại trụ niệu được mô tả dưới đây cùng với chẩn đoán có thể có của nó:

Trụ biểu mô - trụ được hình thành từ tế bào ống biểu mô bị tróc vảy. Chúng có thể có hình bầu dục, dẹp hoặc kéo dài và có thể khó xác định so với trụ bạch cầu. Chẩn đoán: viêm thận cấp, hoại tử ống thận, thải ghép, bệnh do virus.

Trụ mỡ - khi tế bào biểu mô tróc vảy bên trong ống thận, chất béo lắng đọng trong các tế bào liên kết với protein để tạo thành các khối mỡ. Chẩn đoán: bệnh thoái hóa ống thận với sự lắng đọng của vật chất lipit trong ống, viêm thận, hội chứng thận hư, gãy xương. Thường thấy ở mèo bị bệnh thận. Có thể được tìm thấy ở những con chó bị đái tháo đường.

Trụ hạt - trụ Hyalin chứa các hạt mịn hoặc thô có nguồn gốc từ sự tan rã của biểu mô ống hoặc sự tập hợp protein huyết thanh. Thường thấy trong thú nuôi nhà. Không phải là một chỉ số đáng tin cậy về mức độ tổn thương thận. Chẩn đoán: chỉ định không đặc hiệu của bệnh thận, amyloidosis viêm thận mãn tính, bình thường sau khi hoạt động quá sức.

Trụ hyalin - các cấu trúc đồng nhất, không màu, bán trong suốt, hình xì gà có chứa protein và mucoprotein. Tìm thấy trong nước tiểu có tính axit. Không thường thấy ở vật nuôi lớn. Chẩn đoán: mất nước, hoạt động quá sức, thận bị kích thích nhẹ, thuốc lợi tiểu.

Trụ hồng cầu - cấu trúc hình trụ đồng nhất có màu vàng đậm đến cam. 

Chẩn đoán: xuất huyết vào ống thận bắt nguồn từ cầu thận hoặc ống thận, các bệnh về cầu thận bao gồm viêm thận lupus, bệnh thận IgA, hội chứng Goodpasture và bệnh u hạt Wegener.

Trụ thận hư - trụ thận hư giống như trụ hạt nhưng chúng lớn hơn vì chúng bắt nguồn từ ống góp dẫn hoặc ống thận giãn. Chẩn đoán: tắc nghẽn hoặc mất nephron thận.

Trụ sáp - một dạng trụ hạt bị thoái hóa gần như hoàn toàn là kết quả của dòng nước tiểu sụt giảm qua ống. Nó giống như một trụ hyaline nhưng mờ hơn, xuất hiện ngắn và có dạng sáp, có một đầu bị hỏng và chứa một số hạt và toàn bộ tế bào. Chẩn đoán: bệnh thận đang tiến triển, thoái hóa, suy thận mạn, tăng huyết áp ác tính, bệnh thận đái tháo đường, viêm cầu thận, thải hóa thận do thận. Trụ bạch cầu - trụ hyalin với tế bào mủ bên trong chất nền hyalin. Chẩn đoán: bệnh thận tế bào kẽ như viêm bể thận, áp xe thận, nhiễm trùng nhu mô và viêm kẽ.

Tinh thể- tinh thể nói chung thì thường không có mối lo ngại trong lâm sàng. Nhiều tinh thể hình thành khi nước tiểu để lâu. Các tinh thể thường thấy nhất là urat, oxalate và phosate. pH nước tiểu và độ hòa tan tinh thể và nồng độ ảnh hưởng đến sự hiện diện của tinh thể. Ví dụ: ba tinh thể phosphat, phosphat vô định hình và tinh thể canxi cacbonat được tìm thấy trong nước tiểu kiềm; và urat vô định hình và axit uric được tìm thấy trong nước tiểu có tính axit.

Chẩn đoán:

  • Ammonium biurate - bệnh gan, shunt tĩnh mạch cửa-chủ.

  • Calcium oxalate - chế độ ăn nhiều đại hoàng, bắp cải hoặc măng tây, bệnh thận mãn tính nặng, ngộ độc ethylene glycol, ngộ độc methoxyflurane .

  • Cholesterol - viêm thận, nhiễm trùng đường tiết niệu nặng. 

  • Cystine - homocystin niệu, cystin niệu.

  • Leucine and tyrosine - bệnh gan nặng, chuyển hóa protein bất thường. Carbon tetrachloride, chloroform hoặc ngộ độc phospho.

  • Triple phosphate - khẩu phần ăn nhiều rau quả. * Uric acid - bệnh gút, bệnh bạch cầu, u lympho ác tính. Các tinh thể axit uric thường thấy ở chó đốm.

  • Trứng - có thể tìm thấy trứng của nhiều loại ký sinh trùng trong nước tiểu. Ô nhiễm phân là nguồn phổ biến của trứng.

    Hồng cầu - tiểu máu là sự hiện diện của hồng cầu trong nước tiểu. Hồng cầu có thể xâm nhập vào nước tiểu tại bất kỳ điểm nào trong ống sinh dục. Thận là nguồn cung cấp hồng cầu khi tiểu máu đi kèm với trụ hồng cầu, sự vắng mặt của trụ niệu hoặc protein niệu cho thấy nguyên nhân ngoài thận. Chẩn đoán: bệnh đường tiết niệu, sỏi đường tiết niệu, khối u, nhiễm trùng, lao, chấn thương, viêm bàng quang, viêm tuyến tiền liệt, bệnh gút, ung thư ruột kết, ung thư trực tràng, bệnh huyết sắc tố, suy tim, rối loạn đông máu.

    Epithelial cells/Tế bào biểu mô - mức độ của các tế bào biểu mô trong nước tiểu tăng lên trong quá trình bệnh. Chẩn đoán: viêm bàng quang, viêm đường sinh dục, thoái hóa ống, hoại tử ống cấp tính.

    Giọt chất béo - sự hiện diện của các giọt chất béo trong nước tiểu được gọi là mỡ trong nước tiểu. Có thể khó phân biệt các giọt chất béo với hồng cầu, nhưng các giọt được nhuộm bằng Sudan III sẽ bắt màu đỏ cam. Chất bôi trơn ống thông là một nguồn phổ biến của lipid. Nước tiểu có mỡ là bình thường trong nước tiểu mèo. Chẩn đoán: vỡ mạch bạch huyết, tiểu đường, chế độ giàu chất béo, béo phì, thiểu năng tuyến giáp.

    Nấm - thường bị bội nhiễm trong nước tiểu động vật nhưng thường không đáng lo ngại. 

     

  • Thuốc chống đông máu Allopurinol, colchicine, cyclophosphamide, aspirin, penicillin, sulfonamid.

    Tinh trùng - thường không nhìn thấy tinh trùng trong nước tiểu của chó đực. Sự xuất hiện của tinh trùng có thể dẫn đến tăng hàm lượng protein trong niệu đạo.

    Các tế bào biểu mô hình ống - có sự hiện diện của các tế bào biểu mô hình ống trong nước tiểu cho thấy tổn thương ống cấp tính. Chẩn đoán: hoại tử ống thận cấp, viêm bể thận, viêm nhú hoại tử. Kim loại nặng, ngộ độc salicylate, ngộ độc ethylene glycol.

    Bạch cầu - mủ niệu là sự xuất hiện của bạch cầu hoặc tế bào mủ trong nước tiểu. Mủ niệu xảy xa trong hầu hết bệnh ở ống niệu dục. Độ pH, nhiệt độ và trọng lượng riêng của nước tiểu, cũng như vi khuẩn niệu, protein niệu, khoảng thời gian trống và thời gian kiểm tra đều ảnh hưởng đến số lượng và sự xuất hiện của bạch cầu trong nước tiểu. Chẩn đoán: bệnh đường sinh dục, viêm thận lupus, viêm thận ống dẫn trứng, viêm bể thận, tăng hoạt động, sốt.

    Nấm men - sự hiện diện của các tế bào nấm men trong nước tiểu thường không phải là một mối quan tâm ngoại trừ ở động vật bị tiểu đường hoặc suy giảm miễn dịch, trong trường hợp nhiễm trùng nấm men thường đi kèm với mủ niệu.

    7.9 Tỉ trọng nước tiểu/Specific Gravity [SG]

    Các cơ quan bị ảnh hưởng: thận, tuyến tụy, tuyến yên, vùng dưới đồi, tim, gan.

    Lấy và xử lý mẫu: nước tiểu tươi ngẫu nhiên hoặc mới lấy được sử dụng. Nó không cần phải được giữ lạnh.

    Các xét nghiệm hỗ trợ: thể tích, BUN, creatinine, natri, tổng protein, glucose.

    Tỉ trọng nước tiểu, còn được gọi là sự thẩm thấu, chủ yếu là thước đo lượng muối hòa tan và các tế bào ở mức độ thấp hơn là 

    protein và glucose. Tỉ trọng nước tiểu có độ biến động lớn ở động vật khỏe mạnh- từ pha loãng đến đồng tỉ trọng niệu (là có tỉ trọng nước tiểu đẳng trương với protein tự do trong huyết tương) và đến sự cô đặc- điều này phụ thuộc vào lượng nước đưa vào cơ thể và trạng thái hydrat/thủy hóa. Tỉ trọng nước tiểu cho thấy khả năng lọc cô đặc nước tiểu của ống thận. Các phép đo phải được hiệu chỉnh cho protein và glucose.

    Nói chung, khi lượng nước tiểu tăng, tỉ trọng nước tiểu giảm do bị pha loãng; và khi lượng nước tiểu giảm, tỉ trọng nước tiểu tăng do nước tiểu bị cô đặc. Tăng lượng nước tiểu và giảm tỉ trọng nước tiểu thì thường xảy ra, nhưng không phải luôn luôn là biểu hiện của bệnh thận. Giảm tỉ trọng nước tiểu có thể không xảy ra cho đến khi khoảng 70% ống niệu bị suy yếu. Nước tiểu đẳng trương thường thấy trong bệnh thận mãn khi mà nước tiểu bài tiết ra có cùng tỉ trọng với huyết tương (khoảng 1.010) do bất thường trong khả năng cô đặc nước tiểu. Nếu có vấn đề trong việc cung cấp nước cho cơ thể sẽ gây tăng tỉ trọng và giảm thể tích nước tiểu. Tỉ trọng nước tiểu được đo theo công thức sau:

    Tỉ trọng nước tiểu = trọng lượng nước tiểu/ trọng lượng nước

    Tăng niệu:

  • Mất nước, tiêu chảy, nôn mửa, giảm tưới máu thận với cơ chế cô đặc bình thường, đái tháo đường, protein niệu, viêm cầu thận, bệnh niệu quản tắc nghẽn, đa niệu, sốc giảm thể tích, suy tuần hoàn do phù, sốt cao, bỏng do mất dịch ngoại bào, nhiễm độc huyết khi mang thai vàng da ở mèo.

  • Nước tiểu bảo quản lạnh

  • Giảm niệu:

  • Giảm lượng nước uống, tổn thương ống thận, suy thận mạn tính, bệnh thận giai đoạn cuối (lượng nước tiểu sẽ thấp), bệnh đái tháo nhạt do thận, đái tháo đường, tăng năng tuyến thượng thận, viêm tử cung mủ, độc thận, viêm 

    thận, bệnh thận amyloidosis, viêm bể thận mạn tính, tăng huyết áp ác tính, nước tiểu đẳng trương.

  • Corticosteroids, lợi tiểu, ACTH, truyền dịch tĩnh mạch.

  • Tổn thương cầu thận (sẽ xuất hiện một số hồng cầu và bạch cầu), viêm thận cầu thận, viêm bể thận, protein Bence-Jones, viêm đường tiết niệu hoặc sinh dục (liên quan đến tiểu máu và mủ niệu), sốt, sốc, căng thẳng do cảm xúc, bệnh tim, amyloidosis, nhồi máu thận, bệnh thần kinh trung ương, vi rút xảy thai trên loài linh trưởng, chu kì động dục, mang thai, đẻ, co giật, ăn quá nhiều protein, xuất huyết đường tiết niệu, chấn thương thận, u thận.

  • Protein niệu sau thận (sau thận) có thể do dịch tiết từ âm hộ hoặc bìu, tinh dịch, viêm tuyến tiền liệt, viêm bàng quang, viêm ống niệu đạo, viêm bể thận, sỏi tiết niệu 

  • 7.10 Tổng Protein/Total Protein [TP, T.Prot]

    Những cơ quan bị ảnh hưởng: thận, tim, hệ thần kinh.

    Lấy và xử lý mẫu: nước tiểu được lấy quá 24 giờ và được trữ trong đá không có chất bảo quản.

    Những xét nghiệm hỗ trợ: BUN, creatinine, cặn lắng (hồng cầu, bạch cầu, tinh trùng).

    Nước tiểu thông thường chỉ chứa một lượng rất nhỏ protein do sự thoát mạch bình thường hoặc sự xuất hiện của tinh trùng (trên chó). Protein khi thoát ra khỏi cầu thận thì được hấp thụ lại trong ống thận. Việc tìm thấy một ít protein niệu là bình thường (tăng protein trong nước tiểu) ở thú non mới sinh, trong quá trình lên giống, đẻ con, hoặc sau khi tập thể dục; ngoài ra, protein niệu có thể là bệnh lý.

    LƯU Ý: tổng protein thì được đo trong huyết thanh (xem chương 6: chẩn đoán sinh hóa lâm sàng)

    Tăng: (sỏi).

  • Tập luyện

  • Asen, chì, thủy ngân, nhựa thông, phenol, phốt pho, ether, sulfonamit

  • Xét nghiệm hỗ trợ: ALT, ALP, AST, axit mật, bilirubin trực tiếp, GGT, 5'-NT, BUN, creatinine, pH nước tiểu.

    Giảm: không có ý nghĩa trên lâm sàng.

    7.11 Độ đục

    Những cơ quan bị ảnh hưởng: thận, đường sinh dục.

    Lấy và xử lý mẫu: nước tiểu mới lấy tự do. Nước tiểu nên được kiểm tra nhanh trước khi bị lạnh đi.

    Những xét nghiệm hỗ trợ: máu trong nước tiểu, cặn lắng, huyết sắc tố trong niệu đạo và myoglobin.

    Nước tiểu mới được bài tiết ra thì trong suốt, nhưng trở nên đục khi nguội đi do sự kết tủa của muối. Độ đục có thể là do các tế bào máu (hồng cầu, bạch cầu), tế bào biểu mô, tinh dịch, chất nhầy (đặc biệt là ở ngựa), tinh thể bị kết tủa, nhiễm phân, lipit, nấm men hoặc hộp chứa nhiễm bẩn. Nước tiểu có chứa hồng cầu (tiểu máu) có màu đục, nhưng nước tiểu có chứa huyết sắc tố (huyết sắc tố) hoặc myo-globin (myoglobin niệu) là mờ. Một lớp màng phủ mịn có thể là do vi khuẩn. Độ đục tăng thường là do các tế bào mủ. Nước tiểu cô đặc đục hơn nước tiểu loãng. Nước tiểu của mèo khỏe có xu hướng bị đục do các giọt lipid.

    7.12 Urobilinogen [Urobl]

    Những cơ quan bị ảnh hưởng: gan, tim, túi mật, ống mật, thận.

    Lấy và xử lý mẫu: nước tiểu không được lấy quá hai giờ và được trữ trong đá trong hộp tối. Nó cần phải được đo lường trong vòng 30 phút hoặc làm đông để lưu giữ. Mẫu được lấy quá một ngày nên được bảo quản trong 5g sodium bicarbonate và 100ml toluene.

Các urobilinogen là một nhóm các chất sắc tố được tìm thấy trong nước tiểu. Bilirubin liên hợp được loại bỏ vào đường dạ dày ruột và được chuyển thành urobilinogen bằng vi khuẩn non, đi qua gan và được tái hấp thu bởi ruột non, đi qua gan và được đào thải qua thận; phần còn lại được loại bỏ trong phân dưới dạng stercobilin. Sự hiện diện của urobilinogen trong nước tiểu cho thấy ống mật mở và tuần hoàn ruột là bình thường. Không có gì bất thường khi nồng độ urobilinogen giảm trong một ngày, nhưng việc giảm vài ngày là điều đáng quan tâm. Kháng sinh đường uống có thể cản trở vi khuẩn chuyển đổi bilirubin thành urobilinogen. Lợi tiểu có thể làm loãng nồng độ urobilinogen đến mức không thể đo được. Khi gan bị bệnh không thể bài tiết urobilinogen vào mật, một lượng lớn urobilinogen sẽ được đưa vào hệ tuần hoàn và được thận đào thải qua nước tiểu.

Nước tiểu kiềm chứa nồng độ urobilinogen cao hơn. Phơi nhiễm với ánh sáng huỳnh quang hoặc mẫu giữ lâu sẽ dẫn đến màu nâu cam do chuyển đổi thành urobilin, điều này có thể ảnh hưởng đến các phép đo bilirubin.

Tăng:

  • Tán huyết trong lòng mạch, xuất huyết trong mô, táo bón, viêm gan, suy tim sung huyết, thuốc gây độc gan, xơ vữa động mạch chủ gan, tắc nghẽn đường mật với nhiễm trùng đường mật, thiếu máu ác tính.

  • Chuối

  • Thuốc gây tan máu, chì, natri bicarbonate.

Giảm:

  • Tắc nghẽn đường mật mà không bị nhiễm trùng đường mật, tổn thương tế bào gan lớn, suy thận, nước tiểu axit.

  • Tiếp xúc với ánh sáng

  • Thuốc gây viêm gan ứ mật, kháng sinh làm giảm hệ vi khuẩn đường ruột (ví dụ: tetracycline, 

    khuẩn đường ruột, axit ascobic, carbon tetraclorua.

    7.13 Thể tích/Volume

    Những cơ quan bị ảnh hưởng: thận, tụy, tuyến yên, vùng dưới đồi, tim, gan.

    Lấy và xử lý mẫu: nước tiểu được thu thập trong một khoảng thời gian, chẳng hạn như 24 giờ.

    Các xét nghiệm hỗ trợ: tỉ trọng nước tiểu, BUN, creatinine, Na, tổng protein, glucose.

    Thể tích nước tiểu chủ yếu là một yếu tố của lượng nước uống vào, điều kiện môi trường và mức độ hoạt động của động vật cũng như tình trạng sức khỏe. Nói chung, khi lượng nước tiểu tăng, trọng lượng riêng giảm do pha loãng; và khi thể tích giảm, trọng lượng riêng tăng do nước tiểu bị cô đặc. Lượng nước tiểu cao và trọng lượng riêng thấp thường thấy, nhưng không phải lúc nào cũng là bằng chứng của bệnh thận. Lượng nước tiểu thấp và trọng lượng riêng cao trong các nghiên cứu độc tính có thể là do nguồn cung cấp nước bị lỗi. Những con chuột nhảy duy trì nước và chất điện giải bằng cách bài tiết một lượng nhỏ nước tiểu cô đặc.

    Tiểu nhiều:

  • Đái tháo nhạt: trung tâm (tuyến yên), mắc phải bệnh thận - Đái tháo đường (tỉ trọng nước tiểu luôn cao), quá mức protein, sodium, amino axit, hoặc glucose trong khẩu phần ăn.

  • Suy thận mãn, độc thận, viêm tử cung mủ, bệnh thận amyloidosis, suy tuyến thượng thận, uống nhiều.

  • Uống quá mức (uống nhiều) do thuốc, tự phát, thần kinh, hoặc ảnh hưởng vùng dưới đồi.

  • Truyền dịch tĩnh mạch, manitol hoặc ure, ACTH, corticosteroids, diuretics, radiographic contrast media, caffeine, ethanol, aspirin, chlorpromazine, digitalis,tetracycline.

Giảm niệu:

  • Giảm lượng nước vào, thở hổn hển (chó), thời tiết nóng, giảm tưới máu trước thận do mất nước, tiêu chảy, giảm áp lực máu, sốt, mất máu, sốc, suy tim sung huyết với phù, xơ gan, phù, viêm màng bụng, tắc ruột, hội chứng thận hư, tắc nghẽn động mạch hoặc tĩnh mạch thận cấp.

  • Bệnh nhu mô thận do hoại tử ống thận cấp tính, viêm cầu thận, viêm mạch máu cấp tính, tăng calci huyết hoặc giảm đau thận, suy thận mạn, nhiễm trùng máu, chấn thương nội quan, thiếu protein, bệnh thận giai đoạn cuối (tỉ trọng nước tiểu sẽ thấp).

  • Những thuốc gây độc thận. 

Tham khảo thêm những bài viết hay tại nongtraithucung.com

 

  

Đang xem: Nguyên tắc cơ bản trong Bệnh lý lâm sàng Thú y ( Phần 7 )

0 sản phẩm
0₫
Xem chi tiết
0 sản phẩm
0₫
Đóng