Kiến thức thế giới Pet

Nguyên tắc cơ bản trong Bệnh lý lâm sàng Thú y ( Phần 2 )

Nguyên tắc cơ bản trong Bệnh lý lâm sàng Thú y ( Phần 2 )

CHƯƠNG 2: HUYẾT HỌC: Chương này trình bày toàn diện về quá trình tạo máu, đặc điểm và chức năng của hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu; cơ chế thiếu máu, tăng hồng cầu, các rối loạn bạch cầu, cũng như vai trò then chốt của tiểu cầu trong cầm máu và đông máu ở động vật.

Chương huyết học bắt đầu với sự miêu tả về sự tạo máu - trong quá trình này tất cả các tế bào máu được hình thành chủ yếu ở tủy xương nhưng cũng xảy ra ở gan và lách.

Một phần về tế bào hồng cầu: kiểm tra nguyên nhân gây thiếu máu, quá trình mà tủy xương bình thường đáp ứng với bệnh thiếu máu, nguyên nhân gây ra chứng tăng hồng cầu thứ phát và 24 nguyên nhân chính gây tan huyết.

Một phần về bạch cầu: miêu tả sự hình thành của bạch cầu trung tính, bạch cầu lympho, bạch cầu ưa acid, bạch cầu mono, bạch cầu ưa bazơ và vai trò của mỗi loại trong hệ miễn dịch. Một sự thảo luận về sự khác biệt số lượng bạch cầu miêu tả làm thế nào mỗi loại bạch cầu có thể được trình bày theo tỷ lệ phần trăm của WBCs hoặc là số lượng tế bào tuyệt đối. Một ví dụ minh họa tại sao đánh giá sự khác biệt số lượng tế bào chỉ dựa vào phần trăm có thể dẫn đến một chẩn đoán sai.

Cuối cùng, sự hình thành tế bào bạch cầu và vai trò chính trong sự cầm máu.

2.1 Sự tạo máu

Trong quá trình tạo máu, tất cả các loại tế bào máu được sản xuất thông qua nhiều con đường, bắt đầu bằng khả năng phát triển thành những tế bào khác nhau của tế bào gốc được gọi là nguyên bào máu (hemocytoblasts và hemoblasts).

Miêu tả con đường tạo máu của mỗi loại tế bào. Mỗi dòng tế bào sẽ trải qua một chuỗi các giai đoạn tăng sinh (sự phân chia nguyên phân) và giai đoạn trưởng thành, sau đó sẽ đi vào kho lưu trữ tế bào trưởng thành để giải phóng vào sự tuần hoàn chung và trong trường hợp một số bạch cầu, sự phân phối cho cơ thể. Tất cả các tế bào trừ tiểu cầu đều trải qua một chuỗi phân chia nguyên phân theo suốt các giai đoạn trưởng thành làm chúng thu nhỏ kích thước. Sự sản xuất tế bào tiểu cầu chỉ xảy ra khi tế bào tiền thân tủy trải qua hiện tượng đa bội mà không có sự phân chia tế bào. Điều này dẫn đến tế bào rất lớn với nhân đa thùy và sau đó phá hủy tạo thành hàng trăm tiểu cầu. Sự tạo máu đầu tiên xảy ra ở tủy xương nhưng nó cũng xảy ra ở lách và thận, đặc biệt ở thí nghiệm chuột nhắt và chuột cống. Lá lách của loài gặm nhấm sản xuất chủ yếu hồng cầu nhưng nó cũng sản xuất bạch cầu hạt và tế bào nhân khổng lồ (Megakaryocytes).

Đo lường tế bào trôi (Flow cytometry, FCM) là phương pháp được ưu tiên để đếm tế bào hồng cầu, tế bào bạch cầu, tế bào lưới và tiểu cầu. Số lượng hồng cầu lưới cũng có thể được thực hiện bằng cách đếm >= 1,000 hồng cầu trên mẫu nhuộm với dung dịch mới xanh methylene. Hemoglobin được đo bằng phương pháp Cyanmethemoglobin. Nhuộm máu Wright-stained xem dưới kính hiển vi để đánh giá hồng cầu, bạch cầu, sự bất thường của tiểu cầu, số lượng bạch cầu, sự khác biệt về số lượng bạch cầu, ký sinh trùng, số lượng tiểu cầu và vi khuẩn. Xét nghiệm soi tươi (Wet mounts) được ưa chuộng trong nghiên cứu hình thái vì hình dạng hồng cầu là không đổi và không cần nhiều dụng cụ. Hình thái của hồng cầu được miêu tả rõ hơn trong chương chẩn đoán huyết học và thuật ngữ huyết học.

  • Sự tăng số lượng tế bào có tiếp vĩ ngữ (Sufix) – philia hoặc – osis (vd: neutrophilia, monocytosis)

  • Sự giảm số lượng tế bào có tiếp vĩ ngữ (Sufix) –penia (vd: lymphopenia)

2.2 Hồng cầu

Gần một triệu tế bào hồng cầu già yếu sẽ được thay thế mỗi giây trên chó. Để đối phó với sự thiếu máu, như mất máu hoặc bệnh tật, tủy xương của một con chó khỏe mạnh có thể sản xuất hồng cầu với tốc độ gấp 6-8 lần. Các yếu tố cần cho sự sản xuất hồng cầu là erythroproietin (EPO, cytokine chính để điều chỉnh sự sản xuất RBC), globulin, ion, cô ban, đồng, tác nhân tạo máu, protoporphyrin, vitB2, B6, và B12, niacin, acid folic và thiamine. Thiếu một trong số này có thể dẫn đến thiếu máu, bệnh đa hồng cầu, sự bất thường của hồng cầu.

Thiếu máu là sự giảm số lượng hồng cầu, hematocrit và hemoglobin.

Thiếu máu không phải là một bệnh, nhưng đúng hơn là dấu hiệu một bệnh hoặc một chấn thương. Có 4 nguyên nhân phổ biến gây thiếu máu:

  • Mất máu: Chấn thương, phẫu thuật, bệnh đông máu, ký sinh trùng hút máu, chảy máu ở ruột và bộ phận sinh dục, xuất huyết nội, loét, và ngộ độc (warfarin, cây dương xỉ, cỏ ba lá ngọt).

  • Thiếu máu tan huyết: Sự phá vỡ các tế bào hồng cầu gây ra bởi vi khuẩn và vi rút, các chất hóa học (VD: saponin, đồng, một số loại thuốc như phenothiazine), các loại cây có độc, các loại bệnh về chuyển hóa, bệnh tan huyết.

  • Sự suy giảm tủy xương: Các tác nhân vật lý (sự bức xạ), tác nhân hoá học (cây dương xỉ, estrogen, phenylbutazone, nhiều loại thuốc kháng sinh), ký sinh trùng, các tác nhân gây viêm nhiễm, viêm mãn tính, viêm thận, bệnh về gan, sự thiếu hụt nội tiết tố, bệnh tăng sinh tủy xương.

  • Sự thiếu hụt dinh dưỡng: vitamin, khoáng, sự thiếu hụt protein.

Thiếu máu là tái tạo hoặc không tái tạo (thỉnh thoảng còn được gọi là thiếu máu đáp ứng hoặc thiếu máu không đáp ứng. Trong thiếu máu tái tạo tủy xương tăng sản xuất hồng cầu để thay thế lượng mất, tan máu, giải phóng một lượng lớn tế bào hồng cầu chưa trương thành như hồng cầu có nhân, tế bào lưới. Điều này không được nhìn thấy trong thiếu máu không tái tạo.

Bảng 2.1 cho thấy thiếu máu có thể được phân loại hình thái như thế nào bằng sử dụng hai chỉ số hồng cầu – thể tích trung bình của hồng cầu (MCV) và nồng độ huyết sắc tố trung bình trong một thể tích máu. Điển hình, thiếu máu hồng cầu to là tái tạo (đáp ứng), thiếu máu hồng cầu bình thường là thiếu máu không tái tạo (không đáp ứng), thiếu máu hồng cầu nhỏ có thể là một trong hai.

MCVMCHCInterpretations (Diễn giải)
Normocyticᵃ (Hồng cầu bình thường)Normochromic (Đẳng sắc)

Normal (Bình thường)

 

Depression anemias (excluding certain nutritional deficiencies and some cases of myeloproliferative disorders in the cat)

 

(Thiếu máu do suy giảm (trừ một số thiếu hụt dinh dưỡng nhất định và một số trường hợp rối loạn tăng sinh tủy ở mèo))

NormocyticᵃHypochromic (Nhược sắc)

Early iron deficiency, depressed erythrogenesis, disease in domestic animals

 

(Thiếu sắt giai đoạn đầu, giảm sản sinh hồng cầu, bệnh ở vật nuôi trong nhà)

Macrocyticᵇ (Hồng cầu to)Normochromic

Pernicious anemia in primates (Thiếu máu ác tính ở linh trưởng)

 

Vitamin B12 and folate deficiencies (Thiếu hụt Vitamin B12 và folate)

 

Cobalt deficiency in ruminants (Thiếu hụt Coban ở loài nhai lại)

 

Erythemic myelosis and erythroleukemia in cats (Bệnh tủy xương đỏ và bệnh bạch cầu dòng hồng cầu ở mèo)

 

Defective erythrogenesis as in Poodle macrocytosis (Khiếm khuyết tạo hồng cầu như trong chứng hồng cầu to ở chó Poodle)

 

Antimitotic drugs, liver disease, splenectomy (Thuốc chống phân bào, bệnh gan, cắt lách)

MacrocyticᵇHypochromic

Temporary anemia following blood loss or hemolysis, usually accompanied by reticulocytosis

 

(Thiếu máu tạm thời sau mất máu hoặc tan máu, thường đi kèm với tăng hồng cầu lưới)

Microcyticᶜ (Hồng cầu nhỏ)Normochromic

Normal for Japanese Akita dogs. (Bình thường đối với chó Akita Nhật Bản)

 

Iron deficiency in progression (Thiếu sắt đang tiến triển)

MicrocyticᶜHypochromic

Iron and copper deficiencies and chronic blood loss. (Thiếu sắt và đồng và mất máu mãn tính)

 

Pyridoxine (vitamin B6) deficiency (Thiếu hụt Pyridoxine)

Bảng 2.1: Phân loại hình thái của thiếu máu.

Khi bị thiếu máu, erythrocytosis hoặc polycythermia- là một sự tăng về khối lượng hồng cầu trong máu. Cả hai thuật ngữ được sử dụng thay thể cho nhau. Hầu hết các nguyên nhân phổ biến gây tăng số lượng hồng cầu được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm là co thắt lách do stress, sự cô đặc hồng cầu (liên quan tăng số lượng hồng cầu) khi một con thú bị thiếu nước. Sự tăng số lượng hồng cầu có thể là nguyên nhân nguyên phát hoặc thứ phát.

  • Nguyên nhân nguyên phát: phì đại lách, tăng sản xuất hồng cầu mặc dù nồng độ EPO huyết thanh thấp và tăng sản xuất bạch cầu hạt và tiểu cầu. tăng hồng cầu nguyên phát là một bệnh tăng sinh tủy xương. Nó còn được gọi là Primary polycythemia, polycythemia vera, và polycythemia rubra vera.

  • Tăng hồng cầu thứ cấp, đó là sự tăng số lượng hồng cầu trong tuần hoàn máu bởi vì sự sản xuất quá mức EPO, hoặc là do giảm oxy thệ thống (thích đáng) hoặc là một EPO đang tiết ra khối u trong thận (không thích đáng). Không giống với chứng tăng hồng cầu nguyên phát, không có sự tăng sản xuất bạch cầu hạt và tiểu cầu. Nó cũng được gọi là Secondary Polycythemia (tăng hồng cầu kế phát)

  • Một phát hiện chung trong nghiên cứu độc chất là tán huyết, chữ lysing (phá vỡ) của hồng cầu với sự giải phóng hemoglobin. Tán huyết xảy ra tự nhiên ở lách, gan, và hạch bạch huyết, nơi có dồi dào đại thực bào. Tán huyết ở máu ngoại vi có thể gây ra bởi nhiều điều kiện, bệnh, độ độc, dược tính, lỗi lấy mẫu như được minh họa trong bảng 2.2

  
Các điều kiện kế thừa (ví dụ, bệnh thalassemia, bệnh lý máu tụ, thiếu máu hồng cầu hình liềm)Thuốc chống vi-rút (ví dụ: Ribavirin®)
Bệnh chuyển hóaChạy thận nhân tạo
Bệnh tan máuPhản ứng truyền máu
Thiếu máu tán huyết tự miễnSốt rét
Poikilocytes (hồng cầu hình dạng bất thường)Bệnh do ve gây ra
Thu thập mẫu vật không đúng cách (không đúng cách tiêm tĩnh mạch, sử dụng kim nhỏ hoặc lỗ khoan lớn, chuyển máu nhanh từ ống tiêm sang ống đựng)Ký sinh trùng RBC (ví dụ, Babiosis)
Xử lý mẫu không đúng cách (lắc mạnh, tiếp xúc quá mức với nóng hoặc lạnh)Asen
Nhiễm vi khuẩn và vi-rút (ví dụ: clostridial sinh vật)Những loài cây có độc
  
SaponinDược phẩm (ví dụ: sulfones, dapsone, quinine, nitrofurantoin, sulfonamid, phenazopyridine)
Truyền nước tĩnh mạch (dung dịch nhược trương)Kim loại (crom / cromat, bạch kim muối, cis-platinum, hợp chất niken, đồng, chì)
Co thắt hoặc chấn thương mao mạch (như trong chân của những người chạy đường dài)Globulin miễn dịch Rho (WinRho®)
Độc tố (ví dụ: nọc độc rắn cắn)Nitrit

2.3 Bạch cầu

Leukocytes hay còn gọi là tế bào bạch cầu hoặc WBCs, có vai trò chính trong hệ miễn dịch. 5 loại bạch cầu phổ biến bao gồm: bạch cầu trung tính, bạch cầu ưa acid, bạch cầu ưa bazo, bạch cầu mono và bạch cầu lympho.

Polymorphonuclear (PMN) granulocytes (bạch cầu hạt đa hình) bao gồm bạch cầu trung tính (còn gọi là heterophils), bạch cầu ưa acid, bạch cầu ưa bazo, các đại thực bào đơn nhân bao gồm bạch cầu đơn nhân, đại thực bào mô, có liên quan đến cơ chế không đặc hiệu của vật chủ kháng. Tất cả các tế bào đều có mục đích thực bào các ngoại vật. Bạch cầu hạt PMN là tuyến phòng thủ đầu tiên bởi vì nó không yêu cầu kinh nghiệm đã có đối với 

các ngoại vật (kháng nguyên) và chúng có tính di động cao. Nếu PMNs không thể kiểm soát sự nhiễm trùng, tế bào Lympho T nhạy cảm với kháng nguyên bài tiết lymphokine thu hút đại thực bào đến vị trí nhiễm trùng. Đại thực bào sẽ trở thành kẻ giết người mạnh mẽ.

Số lượng bạch cầu (WBC) có thể khác nhau rất nhiều do ảnh hưởng sinh học và vị trí chảy máu. Sự tăng bạch cầu sinh lý do giải phóng các epinephrine có thể là nguyên nhân từ việc tập thể thao, stress và sự e sợ liên quan đến lấy máu tĩnh mạch. Điều này có thể dẫn đến chẩn đoán sai. Ở các động vật nhỏ như chuột cống, chuột nhắt, thỏ có số lượng bạch cầu cao, stress gây giảm lympho bào và bạch cầu trung tính từ đó làm giảm dòng chảy bạch cầu và có thể dẫn đến giảm bạch cầu.

Nhiều loài với số lượng bạch cầu trung tính cao có thể dẫn đến tăng bạch cầu, tăng bạch cầu trung tính và giảm lympho bào khi bị stress. Giải phóng (sự quản lý) corticosteroids gây tăng bạch cầu trung tính, giảm lympho bào và giảm bạch cầu ưa acid. Kết quả tăng bạch cầu ở nhiều loài với N:L (neutrophil:lymphocyte) tỉ lệ > 1.0 và giảm bạch cầu ở nhiều loài với N:L tỉ lệ < 1.0 (xem tỉ lệ neutrophil:lymphocyte trong Chương 5 chuẩn đoán tế bào học):

2.3.1 Bạch cầu trung tính

Bạch cầu trung tính là bạch cầu chiếm ưu thế nhất trên nhiều loài. Bạch cầu trung tính là một dạng bạch cầu hạt (còn có bạch cầu ưa acid và bạch cầu ưa bazo). Bạch cầu hạt thường được dùng với ý nghĩa là bạch cầu trung tính. Các bạch cầu trung tính có chức năng thực bào và diệt khuẩn và là tuyến phòng thủ đầu tiên để chống lại sự viêm nhiễm của vi khuẩn. Đặc điểm đáng chú ý nhất của chúng là một hạt nhân đa hình phân đoạn. Bởi vì cấu trúc này mà các bạch cầu trung tính được gọi là các bạch cầu hạt phân đoạn. Quy mô phân khúc khác nhau giữa các loài. Trên các loài giống cái, hạt nhân có thể có phần phụ hình dạng của dùi trống với chất nhiễm sắc được gọi là Barr body.

Tế bào chất có hạt nhạt, chứa enzym và các hóa chất khác cần thiết để bạch cầu trung tính chống nhiễm vi khuẩn. Các hạt này khác nhau giữa các loài. Bạch cầu trung tính ở nhiều loài như chim, được gọi là heterophils bởi vì hình thái đa dạng khi được nhuộm. Ví dụ, bạch cầu trung tính (heterophils) trên thỏ, bọ, chuột và gà chứa các hạt thế bào chất màu đỏ điều này làm cho chúng giống với bạch cầu ưa acid. Bạch cầu trung tính loài vượn cáo nhuộm màu azurophilic (xanh). Bạch cầu trung tính trải qua 3 giai đoạn: giai đoạn trong tủy xương, giai đoạn nội mạch và giai đoạn mô.

  • Trong suốt giai đoạn trong tủy xương, bạch cầu trung tính được hình thành trong tủy xương và được giải phóng khi trưởng thành. Bạch cầu trung tính Band or stab (bạch cầu trung tính chưa trưởng thành) có số lượng nhỏ trong máu, nhưng cũng được giải phóng sớm từ tủy để đáp ứng với sự viêm nhiễm. Tủy xương chứa rất nhiều kho lưu trữ bạch cầu trung tính trưởng thành (cung cấp 5 ngày trên chó) cho phép thay thế nhanh chóng.

  • Bạch cầu trung tính giai đoạn nội mạch có trong bể tuần hoàn circulating pool (trong máu) hoặc có trong bể cận biên marginal pool (dính với thành mao mạch). Tất cả các bể này đều có kích cỡ tương đương nhau và có thể thay thế cho nhau phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe. Tế bào trung tính trong bể cận biên thì già hơn và dồi dào nhất trong mao mạch phổi. Tế bào trung tính sẽ được thu gom trong quá trình lấy máu tĩnh mạch từ bể tuần hoàn. T1/2 cho bạch cầu trung tính tuần hoàn là khoảng 6h. Bể tuần hoàn và bể cận biên tạo nên bể tổng bạch cầu hạt trong máu total blood granulocyte pool. Bể cận biên trên mèo lớn gấp hai lần bể tuần hoàn.

  • Nhiều tế bào trung tính không mất trong phổi, nước tiểu, nước bọt, dạ dày ruột đi vào giai đoạn mô. Chúng đi qua mạch máu (xuyên mạch) và đi vào mô trong đáp ứng sự viêm. Trong tổn thương mô nghiêm trọng, tủy tăng sản xuất và giải phóng bạch cầu trung tính để di chuyển vào vị trí viêm. Sau khi giảm bạch 

    cầu trung tính ban đầu thì tổng bạch cầu hạt trong bể máu tăng lên.

    Số lượng bạch cầu trung tính trong máu là sự phản chiếu của sự sản xuất bạch cầu trung tính (sự tạo bạch cầu hạt), giải phóng bạch cầu trung tính từ tủy, tế bào già, bám vào rìa, sự di cư vào trong mô. Sợ hãi, stress, sự gắng sức và sự giải phóng của epinephrine và norepinephrine có thể gây ra bạch cầu trung tính sinh lý do sự dịch chuyển bạch cầu trung tính ngoại biên ngược trở lại vào trong bể tuần hoàn. Sự dịch chuyển này có thể là kết quả tăng đột ngột 2 đến 3 lần bạch cầu trung tính. Điều này có thể dẫn đến chẩn đoán sai ở nhiều động vật không có điều kiện lấy máu tĩnh mạch. Tăng bạch cầu trung tính sau khi dùng corticosteroid là do giải phóng bạch cầu trung tính trưởng thành được dự trữ từ tủy và từ bể cận biên. Có thể khó phân biệt từ một bảng công thức máu hoàn chỉnh cho dù sự tăng bạch cầu trung tính là do đáp ứng với sự căng thẳng hay sự viêm nhiễm.

    Trong đáp ứng nhiễm trùng, bạch cầu trung tính trong hệ tuần hoàn di chuyển đến khu vực ngoại biên (lề) và đi vào các mô. Điều này dẫn đến giảm bạch cầu trung tính ban đầu. Tủy xương sau đó giải phóng bạch cầu trung tính trong kho lưu trữ và bạch cầu này cũng sẽ di chuyển đến vùng ngoại biên và đi vào các mô. Giảm bạch cầu trung tính tồn tại kéo dài mặc dù tổng lượng bạch cầu hạt trong máu tăng. Khi nhiễm trùng tiến triển dẫn đến tăng sản sinh bạch cầu hạt và bạch cầu trung tính mới, kết quả tạo thành sự tăng bạch cầu trung tính.

    Band neutrophils là những bạch cầu trung tính chưa trưởng thành. Một số lượng nhỏ của band neutrophil được tìm thấy trong máu. Bất cứ nơi nào nhiễm trùng đều đòi hỏi tủy xương giải phóng nhiều bạch cầu trung tính, dẫn đến sự tăng số lượng bạch cầu trung tính chưa trưởng thành được giải phóng vào trong máu. Điều này gọi là left shift. Các tế bào được giải phóng chưa trưởng thành tăng lên, thì left shift sẽ được cho là nghiêm trọng hơn. Mức độ của left shift có thể được định nghĩa như sau:

  • Slight: giải phóng band neutrophils

  • Moderate: giải phóng nhiều band neutrophil và hậu tủy bào bạch cầu trung tính

  • Marked: giải phóng nhiều tế bào tủy và nhiều tế bào tiền tủy

  • Severe: giải phóng nguyên bào tủy.

  • Left shift có thể là tái tạo hoặc thoái hóa.

  • Tái tạo - left shift là do tăng sự tạo thành bạch cầu hạt trong tủy xương khỏe mạnh. Đó là sự tăng bạch cầu trung tính chưa trưởng thành, nhiều hơn bạch cầu trung tính trưởng thành.

  • Trong Right Shift, tăng bạch cầu trung tính già trong máu cũng như tăng bạch cầu trung tính nhân đa thùy (5 thùy trở lên). Nó gây ra bởi corticosteroids, sự thiếu hụt vitamin B12 và folate, giảm nguyên phân bào trong tủy. Nó cũng có thể là sai sót ảo khi máu được lưu trữ lâu. Right shift thường được thấy ở người nhưng hiếm khi ở vật nuôi.

    2.3.2 Bạch cầu ưa acid

    Bạch cầu ưa acid là trung gian cho các phản ứng dị ứng, viêm nhiễm và sự tiêu diệt các ký sinh trùng như là giun sán. Bạch cầu ưa acid là một bạch cầu hạt và được phân biệt bởi màu hồng sáng hoặc hạt tế bào chất màu cam và một hạt nhân đa hình mịn. Các hạt hình que trên mèo. Mặc dù chúng xuất hiện rất đa dạng giữa các loài, tất cả các bạch cầu ưa acid đều là diệt ký sinh trùng, diệt khuẩn và đại thực bào. Bạch cầu ưa acid được sản xuất hầu hết ở tủy, nhưng cũng ở tuyến ức, lách, hạch cổ tử cung. Nó dành chỉ một vài giờ (1 giờ trên chó) trong tuần hoàn ngoại vi trước khi di chuyển vào các mô. Nó có xu hướng tụ tập gần tế bào mast và 

    được tìm thấy chủ yếu ở tủy xương và các công vào như da, đường tiêu hóa và phổi. Do đó, một CBC có thể không là thước đo đáng tin cậy của bạch cầu ưa acid trong mô bị ảnh hưởng. Hầu hết các loài có số lượng bạch cầu ưa acid thấp nhất vào buổi sáng.

    2.3.3 Bạch cầu ưa bazo

    Bạch cầu ưa bazo liên quan đến các phản ứng quá mẫn cảm và viêm. Bạch cầu ưa bazo là bạch cầu hạt không đều, nhân đa thùy màu nhợt nhạt khi nhuộm (2-3 thùy) và là một số nhỏ của hạt tế bào chất trong đó kích cỡ và đặc điểm rất khác biệt giữa các loài. Bạch cầu ưa bazo có hình thái gần giống với tế bào Mast, và có chức năng như nhau. Chúng sản xuất và dự trữ histamine, heparin, serotonin, acid hyaluronic và các chất kích hoạt mạch khác, giải phóng các hóa chất này khi kích thích. Sau đó rời khỏi tủy xương, bạch cầu ưa bazo dành vài giờ trong tuần hoàn ngoại vi trước khi di chuyển vào mô cơ thể. Bạch cầu ưa bazo thì hiếm, nhưng tăng bạch cầu ưa bazo có thể xảy ra cùng với tăng bạch cầu ưa acid. Bạch cầu ưa bazo được tìm thấy với số lượng nhỏ ngoại trừ ở thỏ. Theo quy luật, các loài với nhiều bạch cầu ưa bazo thì có ít tế bào mast và các loài có nhiều tế bào Mast thì có ít tế bào bạch cầu ưa bazo.

    2.3.4 Bạch cầu đơn nhân lớn

    Bạch cầu mono được hình thành trong tủy xương và là bạch cầu lớn nhất. Chúng được tìm thấy với số lượng nhỏ trong máu. Hạt nhân có thể có đa dạng về hình dáng (hình trứng hoặc hình thận). Tế bào chất xuất hiện mặt kính và chứa hạt nhỏ màu tím và không bào lớn. Hạt nhân thoái hóa nhanh trong máu được lấy quá lâu. Bạch cầu mono thực bào và thường xuyên tấn công các kháng nguyên khó xử lí. Sau một thời gian ngắn lưu thông trong máu, bạch cầu mono đi vào mô và khoang cơ thể nơi chúng trở thành các đại thực bào cố định cho đến khi chúng bị kích thích bởi sự viêm để trở thành các đại thực bào tự do. Hiệu quả của bạch cầu đơn nhân tăng lên khi nó trở thành đại thực bào. Không  giống với bạch cầu trung tính, bạch cầu đơn nhân có khả năng nguyên phân trong khi cư trú ở mô. Corticosteroids ức chế chức năng của bạch cầu đơn nhân và đại thực bào. Bởi vì các đại thực bào hiếm khi được tìm thấy trong máu, bạch cầu đơn nhân được đếm thay thế.

    Bạch cầu đơn nhân là thành viên của hệ thống thực bào đơn nhân Mononuclear Phagocytes System (MPS), bao gồm bạch cầu đơn nhân, tiền bạch cầu đơn nhân trong máu và xương, và đại thực bào của hạch bạch huyết, lách, phổi, tủy xương, mô liên kết, tế bào Kupffer (gan), và các cơ quan khác. Trong các loài, số lượng tế bào bạch cầu đơn nhân rất thấp ở cơ thể khỏe mạnh, điều này có thể khó để nhận biết được bệnh giảm bạch cầu đơn nhân.

    2.3.5 Bạch cầu lympho

    Tế bào lympho có kích thước đa dạng. Chúng có hình tròn, nhân có hình tròn đơn hoặc hình bầu dục. Chúng được sản xuất hầu hết ở tủy xương, nhưng cũng có thể ở những cơ quan bạch huyết (gồm hạch bạch huyết, tuyến ức, lách) và trong các mô bạch huyết liên quan đến ruột (gồm amidan, Peyer mảnh trong ruột non và ruột thừa). Tế bào lympho chưa trưởng thành thì lớn và phân tán sắc tố, tế bào chất ái kiềm, sắc tố trơn. Tế bào lympho trưởng thành thì nhỏ hơn và có hạt nhân nhỏ hơn với sự kết cục của nhiễm sắc thể. Khi bị kích thích, tế bào lympho B trưởng thành và tế bào lympho T có thể trở lại dạng tế bào chất chưa trưởng thành (Blastogenesis), và có thể tiếp tục phân chia và trưởng thành.

    Có 4 loại tế bào lympho chính. Tế bào lympho B và tế bào lympho T chiếm khoảng 90% của tế bào lympho, với sự cân bằng của tế bào chết tự nhiên (natural killer cells) và tế bào null (null cell). Tế bào lympho B có thời gian sống ngắn hơn và tế bào lympho T có thời gian sống dài hơn. Tế bào lympho B và tế bào B (gọi là tế bào lympho B vì nó có có nguồn gốc từ túi hoạt dịch (bursa) ở chim, tế bào lympho độc lập ở tuyến ức, tế bào lympho ở túi bursa, và tủy xương là nơi cung cấp tế bào lympho 

    ở động vật có vú) bắt nguồn từ bursa ở chim và tủy xương ở những động vật có vú, không chịu sự tác động của tuyến ức. Chúng có liên quan đến miễn dịch dịch thể (HI), nó bao gồm sản xuất kháng thể. Sự sản xuất kháng thể thì cần tương tác giữa kháng nguyên, đại thực bào, tế bào lympho B, và tế bào lympho T. Sự nhận diện kháng nguyên khác nhau giữa các loài và chủng.

    Khi tế bào lympho B trưởng thành (nhỏ) trở nên nhạy cảm, chúng có thể trở lại hình thành tế bào blast, phân chia và trở thành tế bào huyết tương khác trong quá trình và điều này được gọi là sự tạo phôi (Blastogenesis). Tế bào huyết tương có một tế bào chất hạt bazo lớn. Chúng hình thành trong hạch bạch huyết, lách, tủy xương. Chúng phổ biến ở các bộ phận trong cơ thể, nhưng tập trung chủ yếu ở hạch bạch huyết, lách (tủy trắng và vỏ mạch máu ngoại vi), và mô liên kết. Chúng hiếm khi được tìm thấy trong máu. Các tế bào plasma thì sản xuất nhiều kháng thể nhất (immunoglobulin). Một tế bào plasma chỉ sản xuất một loại kháng thể.

    Tế bào lympho T, hoặc tế bào T (còn được gọi là sản phẩm xuất phát từ tuyến ức hoặc tế bào lympho độc lập của tuyến ức) có thể tiêu diệt tế bào trong đáp ứng miễn dịch trung gian tế bào (CMIR) bao gồm sự ngăn chặn tác nhân gây bệnh từ virut, nấm, động vật nguyên sinh, tự miễn, sự thải ghép và khối u, đáp ứng với khối u ác tính và trì hoãn phản ứng quá mẫn). Chúng cũng điều chỉnh đáp ứng kháng thể bằng kích thích và ức chế sản xuất kháng thể bởi tế bào lympho B. Tế bào lympho T (và tế bào lympho B ở mức độ thấp hơn) tiết lymphokines để đáp ứng kích thích kháng nguyên. Lymphokine là một protein hòa tan các chất trung gian có rất nhiều tác động đến tế bào đích, đại thực bào, và các bạch cầu khác. Tế bào lympho T có khả năng sản xuất các tế bào lympho T khác. Sự gián đoạn chức năng điều hòa miễn dịch của tế bào lympho T có thể dẫn đến bệnh tự miễn. Có nhiều loại tế bào Lympho T:

  • Cytotoxic T cells - tế bào lympho T nhận diện kháng nguyên đã tiếp xúc trước đó và tiêu diệt các tế bào ngoại lai.

  • T Helper cells (Th cells) - kháng nguyên kích thích tế bào T khẩn cấp để kích thích tế bào lympho B sản xuất ra kháng thể.

  • Tế bào lympho có khả năng tuần hoàn (di động); nghĩa là chúng rời khỏi mạch máu, xâm nhập vào các mô bạch huyết, và quay ngược trở lại máu. Điều này cho phép miễn dịch tế bào lympho có thể phân phối rộng rãi và nhắm mục tiêu kháng nguyên với số lượng lớn khi cần thiết. Khả năng miễn dịch đầy đủ khi được

  • T suppressor cells (Ts cells) - kích thích tế bào T khẩn cấp điều này điều chỉnh dịch thể đáp ứng bằng cách điều chỉnh tế bào giúp đỡ T và sự sản xuất kháng thể của tế bào lympho B. Chúng liên quan đến các bệnh tự miễn.

  • T memory cells – tế bào có thời gian sống dài nhất điều này cho phép đáp ứng kháng nguyên nhanh bởi vì khả năng ghi nhớ kháng nguyên trong thời gian dài.

  • Killer cells - null cells, giống như tế bào lympho trưởng thành, chúng có khả năng gây độc tế bào dựa vào kháng thể (ADCC). Chúng tấn công các tế bào với kháng thể IgG đặc hiệu. Được gọi là tế bào K hay tế bào lympho hủy diệt.

  • Natural killer cells (NK cells) - tế bào null chưa trưởng thành (lớn) có khả năng hoạt động rộng bởi vì chúng không cần kháng thể để tương tác với ngoại vật chất như vi khuẩn, virus, khối u, mô cấy ghép. Tế bào NK cung cấp đáp ứng đầu tiên cho khối u và virus. Chúng hoạt động để đáp ứng với các interferon và cytokines có nguồn gốc từ đại thực bào.

  • Null cells (còn gọi là non-T, non-B lymphocytes) có trên bề mặt kháng nguyên và khác biệt với những thứ được thấy trên tế bào lympho B và T. Chúng có thể là tiền tế bào lympho T. Nhưng mục đích phát triển của chúng là không rõ ràng. Các tế bào Null được nhìn thấy trong bệnh ban đỏ hệ thống.

Tế bào lympho có khả năng tuần hoàn (di động); nghĩa là chúng rời khỏi mạch máu, xâm nhập vào các mô bạch huyết, và quay ngược trở lại máu. Điều này cho phép miễn dịch tế bào lympho có thể phân phối rộng rãi và nhắm mục tiêu kháng nguyên với số lượng lớn khi cần thiết. Khả năng miễn dịch đầy đủ khi được sinh ra, hoàn thiện trong vòng một vài tháng, và dần dần giảm dần theo tuổi tác.  
Những thay đổi về số lượng bạch cầu thường phản ánh tình trạng tủy sản xuất ra tế bào, nhưng đây không đúng với tế bào lympho. Tế bào lympho trưởng thành được lưu trữ trong bể chưa không xác định vị trí và số lượng của chúng gấp khoảng 10 lần tìm thấy trong hệ tuần hoàn. Lymphocytosis và lymphopenia là thuật ngữ được sử dụng để mô tả sự tăng và giảm số lượng tế bào lympho trong hệ tuần hoàn, phản ánh sự sản xuất, sự phá hủy, trưởng thành và di động. Corticosteroid ức chế sản xuất tế bào lympho, đặc biệt là ở chuột, chuột cống và thỏ.

(Bảng dữ liệu)

 Control group (Nhóm kiểm soát) Dosed group (Nhóm dùng thuốc) 
 %10³ cells/mm³%10³ cells/mm³
Total WBC6.02.0
Neuts, Seg201.2601.2
Neuts, Band0000
Lymph804.8400.8
Eos0000
Bas0000
Mon0000

Bảng 2.3: Sự khác biệt số lượng bạch cầu.

2.3.6 Công thức bạch cầu

Dữ liệu bạch cầu thường được trình bày dưới dạng tổng số bạch cầu (WBC) và công thức bạch cầu. Một công thức bạch cầu trình bày số lượng tế bào của từng loại bạch cầu trong máu, bạch cầu trung tính được báo cáo bao gồm cả tế bào chưa trưởng thành (band) và trưởng thành (nhân chia thùy). Thay đổi công thức bạch cầu theo thời gian có thể cho chúng ta biết điều gì đó về sức khỏe của động vật. Ví dụ, sự gia tăng các tế bào lympho so với bạch cầu trung tính cho thấy có một bệnh nhiễm trùng mãn tính. 

Tăng bạch cầu ái toan đột biến cho thấy có thể bị nhiễm ký sinh trùng.

Công thức bạch cầu đôi khi chỉ được trình bày dưới dạng phần trăm (ví dụ: 20% bạch cầu trung tính, 70% bạch cầu lympho, v.v.). Chẩn đoán dựa trên tỷ lệ phần trăm có thể gây hiểu nhầm khi có sự thay đổi đáng kể trong tổng số bạch cầu, như đã chứng minh trong bảng 2.3. Trong ví dụ này, mỗi loại bạch cầu được trình bày ở dạng phần trăm và dạng số lượng tế bào trong tổng số bạch cầu. Để đơn giản, tỷ lệ phần trăm cho bạch cầu trung tính, bạch cầu ái toan, bạch cầu ưa bazo và bạch cầu đơn nhân bằng không.

Nếu chúng ta chỉ nhìn vào tỷ lệ phần trăm trong bảng này, chúng tôi nhận thấy rằng nhóm dùng thuốc (dosed group) có số lượng bạch cầu trung tính tăng gấp ba lần (60% v 20%) và giảm gấp đôi trong tế bào lympho (40% v 80%) so với nhóm kiểm soát (control group). Giải thích này là thiếu sót vì nó không giải thích được việc tổng số bạch cầu giảm ba lần trong nhóm động vật sử dụng thuốc (2.0 v 6.0 x 10³ tế bào / mm³). Sự so sánh số lượng tế bào trong công thức bạch cầu mang lại một cách giải thích khác và chính xác hơn: Tổng số bạch cầu giảm ba lần (2.0 v 6.0 x 10³ ô / mm³). Bạch cầu trung tính không tăng gấp ba lần như được nhìn thấy ở tỷ lệ phần trăm, mà là không thay đổi (1,2 x 10³ tế bào / mm³ cho cả hai nhóm). Tế bào lympho giảm nghiêm trọng ở nhóm dùng thuốc (0,8 x 10³ tế bào / mm³) so với nhóm kiểm soát (4,8 x 10³ ô / mm³). Điều này giải thích cho sự sụt giảm của tổng số bạch cầu. Do đó, giảm bạch cầu lympho nghiêm trọng đã gây ra giảm bạch cầu.

Ví dụ này cho thấy lý do tại sao nên đánh giá dữ liệu biến thiên bằng cách sử dụng công thức bạch cầu thay vì tỷ lệ phần trăm. Phân tích thống kê về sự khác biệt trong tỷ lệ phần trăm sẽ dẫn đến các chỉ số sai. Khi công thức bạch cầu được trình bày chỉ tính theo tỷ lệ phần trăm, số lượng từng loại tế bào có thể dễ dàng được tính bằng cách sử dụng phương trình:

Tổng bạch cầu X % bạch cầu lympho = số lượng tế bào lympho ví dụ: 6.0 X 10³ tổng bạch cầu / mm³ X 20% bạch cầu trung tính = 1.2 X 10³ bạch cầu trung tính / mm³

2.4 Tiểu Cầu

Huyết khối, còn được gọi là tiểu cầu, đóng vai trò chính trong quá trình đông máu và cực kỳ quan trọng để duy trì cầm máu. Thất bại trong việc duy trì cầm máu dẫn đến thời gian chảy máu kéo dài và ban xuất huyết (rò rỉ hồng cầu vào các mô). Huyết khối ở động vật có vú có nguồn gốc từ sự phân mảnh tế bào chất của tế bào có nhân to (megakaryocytes) hình thành trong tủy xương. Megakaryocytopoiesis (sự tạo thành megakaryocytes) là duy nhất nơi mà tiền thân của tế bào tuỷ trải qua quá trình đa bội mà không có sự phân chia tế bào. Điều này tạo ra một nhân đa thùy (8-64 N) và một lượng lớn thể tích tế bào chất. Tế bào chất hình thành từ megakaryocytes bị phá vỡ để tạo ra tiểu cầu trưởng thành trong máu. Một megakaryocyte có thể tạo ra 2.000 - 8.000 tiểu cầu, đây là nơi sản xuất nhiều tiểu cầu nhất.

Megakaryocytopoiesis được kích thích bởi thrombopoietin, một loại hormone glycoprotein sản xuất ở thận và gan. Thrombopoietin có thể làm tăng sản xuất tiểu cầu nhiều gấp tám lần. Giảm tiểu cầu (thường là do giảm hoặc bị phá hủy) kích thích sự gia tăng số lượng, kích thước và khối lượng hạt nhân của megakaryocytes. Điều này dẫn đến tăng số lượng tiểu cầu ở hệ tuần hoàn lên trong vòng 2-3 ngày. Tiểu cầu lớn là một dấu hiệu của sự gia tăng sản xuất tủy. Tiểu cầu nhỏ được nhìn thấy trong giảm tiểu cầu vô căn. Megakaryocytopoiesis bị ức chế bởi một nhân tố được sản xuất trong lá lách. Sự ức chế được nhìn thấy sau khi truyền máu.

Huyết khối gia cầm được sản xuất trong tủy xương. Chúng thì đơn nhân trông tương tự nhưng nhỏ hơn hồng cầu gia cầm và không bao giờ được gọi là tiểu cầu. Tiểu cầu của động vật có vú hơi nhị phân, có thể tròn, hình bầu dục hoặc thon dài, và có tế bào chất trong suốt. Tiểu cầu ở chuột, chuột lang, cừu, ngựa và 

bò thì nhỏ; trung bình ở chó, lợn và người; lớn ở mèo. Epinephrine, cho dù được tiêm hoặc giải phóng khi đáp ứng với căng thẳng, điều dẫn đến co thắt lách và giải phóng tiểu cầu vào hệ tuần hoàn. Xấp xỉ 30 -40% tiểu cầu được lưu trữ trong lá lách ở động vật khỏe mạnh, và có thể tới 90% được lưu trữ trong lách bị triển dưỡng. Tiểu cầu già và hư hỏng được loại bỏ bởi lách, gan và tủy xương.

Tiểu cầu không dính kết với lớp lót nội mô của các thành mạch máu hoặc dính kết lẫn nhau cho đến khi chúng được tiếp xúc với collagen dưới màng cứng sau khi có chấn thương. Adenosine 5'-diphosphate (ADP) được giải phóng khỏi thành mạch máu bị hư hại, với sự có mặt của Ca++, kích thích tiểu cầu trở thành hình cầu và mọc gai (filmaia). Các tiểu cầu sau đó bắt đầu bám dính vào vị trí tổn thương, màng đáy và các sợi đàn hồi. Tiểu cầu giải phóng lượng hạt của chúng, bao gồm protein, fibrinogen, Ca++ và nhiều ADP hơn, khiến cho nhiều tiểu cầu tích tụ và tập hợp lại. Sự co mạch (một phản xạ thần kinh) và đông máu phối hợp với nhau để cầm máu vài phút sau chấn thương.

Máu hoàn toàn có khả năng đông lại trong con đường nội sinh (ví dụ như có thể xảy ra khi máu được tiếp xúc với thành ống đựng mẫu), nhưng việc bổ sung thromboplastin từ vùng chấn thương đã tạo điều kiện cho sự đông máu điều này được gọi là con đường ngoại sinh. Sau khi sự đông máu được thúc đẩy thông qua con đường nội sinh hoặc ngoại sinh, phần còn lại của quá trình đông máu xảy ra theo con đường bình thường. Nhiều yếu tố quan đến ba con đường này. Nguyên tắc vai trò của tiểu cầu là sự kết dính, tập hợp và hình thành chất nhốt (chuyển đổi prothrombin huyết tương thành thrombin). Hiệu quả của sự đông máu và mức độ của bệnh rối loạn đông máu sẽ biểu hiện rõ ràng khi một mạch máu trung bình hoặc lớn bị cắt đứt. Sự đông máu không hiệu quả sẽ dẫn đến xuất huyết kéo dài, trong khi đông máu quá mức có thể dẫn đến tắc nghẽn mạch máu.

 

 

    Tham khảo thêm những bài viết hay tại nongtraithucung.com

     

    Đang xem: Nguyên tắc cơ bản trong Bệnh lý lâm sàng Thú y ( Phần 2 )

    0 sản phẩm
    0₫
    Xem chi tiết
    0 sản phẩm
    0₫
    Đóng