CHƯƠNG 3 LẤY MẪU MÁU VÀ NƯỚC TIỂU
Tóm tắt: Mọi phép đo các bệnh lý lâm sàng có thể bị sai lệch do cách lấy mẫu không chuẩn xác, và có nhiều cách để mẫu có thể bị hư hại. Một danh sách dài những xét nghiệm có thể bị hỏng do hồng cầu tán huyết và sự hiện diện của Bilirubin do kĩ thuật lấy máu không đúng cách. Tương tự như sự sai sót khi xét nghiệm những động vật nhanh nhẹn có thể khiến huyết thanh bị lipid hóa, thứ có thể ảnh hưởng tới nhiều xét nghiệm. Máu nên được lấy từ cùng một vị trí, và vào cùng một thời điểm trong ngày trong suốt quá trình lấy mẫu. Điều này rất cần thiết ở loài gặm nhấm vì số lượng bạch cầu của chúng dao động rất lớn do ảnh hưởng của sinh học và vị trí lấy mẫu. Số lượng tế bào ở tất cả các loài khác nhau phụ thuộc vào vị trí lấy mẫu. Khi con vật bị căng thẳng trong suốt quá trình lấy máu, sẽ có sự giải phóng ra corticosteroid, lách co thắt và giải phóng thêm các tế bào vào hệ tuần hoàn điều này cũng ảnh hưởng đến sinh hóa máu. Bốn phương pháp thu thập nước tiểu được mô tả cùng với ưu khuyết điểm của chúng. Không có phương pháp bảo quản nước tiểu nào là lí tưởng vì vậy ý nghĩa sử dụng sẽ được quyết định bởi các đánh giá cần thiết.
3.1 Lấy mẫu máu
Bất kì khi nào lấy mẫu máu từ động vật, chú ý lấy sao cho giảm thiểu sự tụ máu dưới da, tổn thương mạch máu và viêm tĩnh mạch huyết khối. Con vật nên trong chế độ nghỉ bởi vì vận động và căng thẳng có thể làm biến đổi đáng kể đến số lượng tế bào đếm được. Cần thận trọng khi lấy một lượng lớn máu, bởi vì điều này có thể bất khả thi ở động vật nhỏ.
Máu có thể được rút ra bằng ống tiêm, ống mao dẫn, và ống lấy máu có kháng đông. Lấy máu bằng ống tiêm là quá trình gồm hai bước. Đầu tiên máu được rút ra với một cây kim có kích thước phù hợp, sau đó loại bỏ đầu kim (để giảm thiểu sự tán huyết) và bơm máu vào ống đựng mẫu. Các ống mao dẫn thì rút máu chậm từ lòng mao mạch hoặc vị trí trích. Chúng có nguy cơ bị tạp nhiễm bởi các dịch của cơ thể, bụi, tóc, vẩy da, và vi khuẩn trừ khi vị trí lấy được vệ sinh sạch.
Lấy máu vào ống kháng đông là phương pháp phổ biến nhất. Nó là một quá trình chỉ cần thực hiện một bước cho phép một hay nhiều ống được làm đầy bằng một lần lấy máu tĩnh mạch duy nhất. Tuy nhiên nó có thể khiến các tĩnh mạch nhỏ bị vỡ. Sau khi máu được đưa vào các ống có chứa một lượng kháng đông nhất định, các ống đó được đảo vài lần để kháng đông có thể hòa lẫn vào máu. Các ống mao dẫn cũng có sẵn chất kháng đông. Ống tiêm có thể ngâm chất kháng đông trước khi lấy mẫu. Cần tránh sự pha loãng máu với chất kháng đông quá mức bằng cách luôn lấy đầy thể tích ống máu, hoặc dùng chất kháng đông khô.
Huyết thanh màu hồng là dấu hiệu của sự tán huyết và sự giải phóng huyết sắc tố hemoglobin. Các mẫu này nên bị loại bỏ do việc giải phóng các chất trong tế bào sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình đo kali, magie, calci, phospho, sắt, clorua, brom, ure máu, bilirubin, albumin, acid pyruvic, lactate dehydrogenase, alkaline photphatase, Brosulfalein, ALT, AST, arginase, acid photphatase, corticotropin, chỉ số vàng da, acid lactic, lipase, NPN (nito không protein), globulin liên kết với hormone giới tính (SHBG), và pH. Các nguyên nhân chính gây tan máu trong quá trình lấy mẫu là do sự kháng cự quá mức hoặc khoảng không khí trong ống khi hút máu vào hoặc ống tiêm có khoảng rỗng, lắc quá mạnh, dụng cụ thủy tinh làm lạnh, rung mạnh cục máu đông khi ly tâm, nhiệt độ cao (ví dụ: quá trình vận chuyển), và kim ướt hoặc bẩn, các ống tiêm, và dụng cụ thủy tinh. Việc sử dụng các ống lấy máu kháng đông đã giúp giảm thiểu các vấn đề này.
Máu mao mạch, chẳng hạn như máu được rút từ ngón chân hay gót chân, có thể khác với máu tĩnh mạch. Calci huyết thanh hoặc huyết tương, kali và protein thấp hơn máu tĩnh mạch, glucose nhiều hơn và có xu hướng dễ tán huyết hơn. Huyết thanh nhiều lipid thường là kết quả từ những động vật đang xuất huyết không ngừng. Huyết thanh này nên được loại bỏ vì nó có thể ảnh hưởng vào các phép đo ALT, AST, tổng protein, albumin, cholesterol, bilirubin, chỉ số vàng da, amylase, thymol, độ đục, số lượng tiểu cầu và acid uric. Tiếp xúc kéo dài với cục máu đông có thể ảnh hưởng các phép đo đường huyết, alkaline phosphatase, alanine và enzyme aspartate aminotransferase, lactate dehydrogenase và sắt.
Huyết thanh là dung dịch không có tế bào máu do sự loại bỏ sợi tơ huyết gây đông máu. Việc đó được tiến hành bằng cách để lắng máu ở nhiệt độ phòng trong khoảng thời gian 35 đến 40 phút để loại bỏ fibrinogen. Huyết tương (huyết thanh có chứa fibrinogen) được lấy bằng ống tiêm hoặc bằng ống có chứa kháng đông. Các mẫu máu được ly tâm (>3000G trong >15 phút) và huyết tương hoặc huyết thanh ở phần trên ống được hút vào pipet vào một hộp đựng mẫu sạch. Ly tâm không đúng cách sẽ không loại bỏ được tất cả tiểu cầu nên lactate dehydrogenase (LDH) có thể được giải phóng từ các tiểu cầu bị ly giải. Các phép đo alkaline phosphatase (ALP) và urate cũng có thể bị ảnh hưởng. Các chất kháng đông sau đây được sử dụng thường xuyên nhất cho các xét nghiệm máu toàn phần hoặc huyết tương:
-EDTA (disodium và muối tripotassium của acid ethylenediaminetetraacetic) là một tác nhân ức chế đông máu bằng cách liên kết với calci để tạo thành muối calci không hòa tan. Nó là thuốc chống đông máu được sử dụng phổ biến nhất. EDTA không ảnh hưởng đến hình thái hay sự nhuộm màu tế bào máu.
-Heparin (Natri, lithium, và ammonium heparin) ít ảnh hưởng nhất đến các xét nghiệm hóa học lâm sàng và hình thái hồng cầu vì đây là sản phẩm tự nhiên. Nó gây ức chế thrombin và thromboplastin, vì vậy nó không phù hợp với các xét nghiệm kiểm thời gian đông máu và prothrombin. Nó phải luôn được sử dụng khi lấy máu để phân tích khí gas trong máu. Không khuyến khích phương pháp này cho phết máu vì nó cản trở sự nhuộm của bạch cầu, và có thể gây ra sự tạo khối của bạch cầu.
Mẫu máu
-Oxalate (ammonium, kali, lithium, và natri oxalate) tạo thành calci oxalate không hòa tan gây cản trở quá trình đông máu. Các oxalate không được sử dụng cho các nghiên cứu đông máu. Bởi vì chúng ức chế lactate dehydrogenase (LDH). Chúng không thể dùng để đo điện giải và nitơ. Thoái hóa giảm bạch cầu bắt đầu sau khoảng một giờ.
-Kali, natri và lithium oxalate gây ra sự co rút tế bào (6-8%), và ammonium oxalate gây phù tế bào. Oxalate kép của Heller và Paul là hỗn hợp của ammonium và kali oxalate. Hỗn hợp này có thể được sử dụng cho hầu hết các nghiên cứu về huyết học bao gồm hình thái học bởi sự co rút được gây ra bởi một oxalate này sẽ được bù đắp bằng cái khác.
-Citrates (trisodium và lithium citrates) kết hợp với calci citrates dạng muối không hòa tan. Chúng thường được dùng cho các nghiên cứu đông máu và bảo tồn máu để truyền máu. Natri citrat gây co rút tế bào. Lithium citrate thường không được sử dụng ngoại trừ các phép đo khoáng chất trong máu.
-Natri Fluoride / Thymol (10:1) thường không được sử dụng ngoại trừ để ức chế quá trình đường phân (xét nghiệm glucose).
-Dung dịch ACD B (Acid Citrate Dextrose) được sử dụng để bảo quản máu khi truyền máu.
Điều quan trọng là sử dụng thuốc chống đông máu thích hợp để ngăn ngừa sự ảnh hưởng của hóa chất. Các ống thu thập máu được mã hóa màu theo các chất phụ gia mà chúng chứa. Mỗi phòng thí nghiệm sẽ lựa chọn ống phù hợp.
3.1.1 Lấy mẫu huyết học
Khi lấy máu cho các nghiên cứu về huyết học, nên tránh tán huyết và đông máu. Thuốc chống đông máu được ưa thích là kali EDTA vì nó ít ảnh hưởng đến hình thái tế bào nhất và nó bảo tồn tiểu cầu. Phết máu để đếm công thức bạch cầu nên được thực hiện ngay lập tức khi máu vừa được thu thập, mặc dù máu có chứa EDTA có thể được sử dụng trong vòng 15 phút. Nếu máu không được chạy kiểm tra ngay lập tức, thì nên bảo quản lạnh ở nhiệt độ 4 ° C. Lưu trữ máu có thể dẫn đến giảm số lượng bạch cầu và tiểu cầu cũng như tạo ảnh ảo trong hình thái hồng cầu và bạch cầu. Mẫu hemoglobin huyết tương phải được ly tâm ngay lập tức và loại bỏ huyết tương trước khi làm lạnh. Các phép đo dung tích hồng cầu (HCT) được thực hiện với một ống thủy tinh nhỏ chuyên dụng để đo lượng HCT được lấy trong các ống mao dẫn chứa heparin.
Vì máu thường được rút trích cùng lúc để kiểm tra chỉ số sinh lý và sinh hóa, nên động vật thường được nhịn ăn; nhưng nhịn ăn không cần thiết cho các mẫu sinh lý máu. Nên cung cấp đủ nước uống cho con vật, sẽ không có tác động đáng kể nào xảy ra đối với các thông số huyết học. Máu nên được lấy từ cùng một vị trí, và vào cùng một thời điểm trong ngày trong suốt quá trình lấy mẫu. Điều này rất cần thiết ở loài gặm nhấm vì số lượng bạch cầu của chúng tăng lên do tác động của sinh học và vị trí lấy mẫu. Số lượng tế bào ở tất cả các loài khác nhau tùy thuộc vào vị trí lấy mẫu. Điều quan trọng là tránh cho con vật bị phấn khích trong khi trích máu vì nó dẫn đến sự giải phóng corticosteroid, co thắt lách và tăng giải phóng các tế bào bổ sung vào máu.
Tủy xương có thể được trích hút từ động vật sống bằng kim, tủy xương cũng có thể được thu thập trong vòng vài giờ sau khi chết. Trích hút tủy thường được lấy từ xương đùi của loài gặm nhấm bằng cách mở hai đầu đối diện của xương đùi hoặc xương ức và rửa sạch tủy bằng nước muối sinh lý. Tủy chó được lấy từ mào chậu, xương sườn, xương ức hoặc gần xương cánh tay. Nó không được thu thập từ xương đùi vì tủy gần như được thay thế bằng chất béo ở chó trưởng thành. Tủy cũng có thể được thu thập bằng bàn chải lông. Tủy thường được trộn với nước muối sinh lý và EDTA. Tủy xương được phết lên phiến kính và để khô để đánh giá dưới kính hiển vi. Tủy cũng có thể được chuẩn bị để đếm tế bào dòng chảy, đánh giá mô bệnh học hoặc nuôi cấy trong phòng thí nghiệm.
3.1.2 Lấy mẫu hóa học lâm sàng
Máu động mạch được sử dụng để xác định khí máu và không được chứa bọt khí. Máu tĩnh mạch thường được sử dụng cho tất cả các phép đo hóa học lâm sàng khác vì nó dễ lấy và an toàn hơn. Hóa học của máu động mạch và tĩnh mạch gần như giống hệt chỉ có khí máu là ngoại lệ. Huyết thanh được sử dụng cho hầu hết các phép đo hóa học vì nó không chứa chất chống đông máu có thể làm loãng hoặc tương tác với thành phần được đo.
Lithium heparin được sử dụng như một chất chống đông máu khi kiểm tra các thành phần huyết tương như sợi tơ huyết. Tuy nhiên, thuốc chống đông máu không được sử dụng cho hầu hết các xét nghiệm. Máu để cho đông lại và sau đó mang đi ly tâm rồi tách huyết thanh nổi trên bề mặt để phân tích. Huyết thanh nên được bảo vệ khỏi ánh sáng, được xử lý bằng chất bảo quản hoặc làm lạnh khi cần thiết. Ví dụ:
Glucose trải qua quá trình đường phân trừ khi nó được làm lạnh và xử lý bằng fluoride (một chất ức chế enzyme).
Enzyme (ngoại trừ lactate dehydrogenase), nitơ urê máu, creatinine và acid uric thì không ổn định, vì vậy chúng cần được đánh giá ngay lập tức hoặc các mẫu được bảo quản ở nhiệt độ lạnh / đông lạnh.
Bilirubin bị phá vỡ bởi ánh sáng mạnh, vì vậy máu nên được giữ trong bóng tối.
Động vật nên được nhịn ăn trong vài giờ. Đối với các loài nhỏ, một đêm nhịn ăn tương tự như bị chết đói vì tốc độ trao đổi chất nhanh chóng của chúng. Nước nên có sẵn trong thời gian nhịn ăn. Nhịn ăn ngăn ngừa lipid máu, có thể ảnh hưởng đến một số xét nghiệm. Các động vật được xét nghiệm định kỳ trong một nghiên cứu dài hạn nên được lấy máu vào cùng khoảng thời gian trong ngày để ngăn ngừa các phản ứng sinh học. Ngoài ra các nguyên nhân dẫn đến sự căng thẳng nên được giảm thiểu vì chúng có thể có tác động đáng kể đến sinh hóa máu.
3.2 Vị trí lấy máu
Việc lấy máu đòi hỏi một trình độ chuyên môn nhất định để thu thập được mẫu không bị tạp nhiễm. Khi lấy máu từ động vật nhỏ, chỉ lấy một lượng nhỏ để tránh tác dụng phụ cho con vật (ví dụ: thiếu máu) và nghiên cứu độc tính. Ví dụ, mất 20% máu khi 0,5 ml máu được rút ra từ một con chuột 20 g. Bảng 3.1 liệt kê các vị trí lấy máu phổ biến từ nhiều loài khác nhau, cũng như các biến chứng có thể xảy ra:
Chim:
Có thể thu được một lượng máu nhỏ bằng cách cắt móng chân (gây ra sự giải phóng thromboplastin mô), làm thủng mào hoặc cắt một ít đỉnh mào. Lượng lớn máu có thể được trích từ các xương cánh tay, da ở xương trụ, tĩnh mạch cổ phải và tĩnh mạch giữa mu bàn chân. Khối máu tụ sau lấy mẫu là phổ biến.
Mèo:
Có thể lấy một lượng lớn máu từ tĩnh mạch cổ, tĩnh mạch tay, đùi và tĩnh mạch hiển bên (saphenous vein), hoặc từ tim nếu mèo được gây mê toàn phần. Có thể lấy máu động mạch ở động mạch đùi. Sự kích thích quá độ dẫn đến co thắt lách gây nên tăng số lượng hồng cầu, dung tích hồng cầu, huyết sắc tố và huyết khối cầu. Sự sợ hãi và tăng trương lực cơ dẫn đến tăng bạch cầu trung tính và bạch cầu lympho.
Gia súc:
Lượng máu nhỏ có thể được lấy bằng cách chích máu tai hoặc đuôi. Lượng lớn máu có thể được lấy từ tĩnh mạch cổ.
Chó:
Máu có thể được rút ra với một lượng lớn từ các tĩnh mạch cổ, tay, xương đùi và tĩnh mạch hiển bên, hoặc từ tim của một con chó bị gây mê. Máu động mạch có thể được rút ra từ động mạch đùi. Kích thích quá độ hoặc vận động quá sức gây ra tăng bạch cầu trung tính. Sự sợ hãi và tăng trương lực cơ gây ra sự gia tăng các tế bào lympho và hồng cầu. Sợ hãi trong quá trình lấy mẫu có thể gây ra co thắt lách dẫn đến tăng hồng cầu, HCT và huyết sắc tố.
Chồn:
Lượng máu nhỏ có thể được lấy từ tĩnh mạch đuôi hoặc bằng cách cắt móng chân. Lượng máu lớn hơn có thể được rút ra từ các tĩnh mạch cổ, tĩnh mạch tay hoặc tim của một con chồn bị gây mê.
Chuột nhảy:
Lượng máu nhỏ có thể được thu thập bằng cách cắt móng chân. Lượng lớn hơn có thể được rút ra từ tim của một con chuột bị gây mê, hoặc đám rối tĩnh mạch mắt.DêCó thể thu được một lượng máu nhỏ bằng cách chích máu tai hoặc đuôi. Khối lượng lớn có thể được thu thập từ tĩnh mạch cổ.
Chuột lang:
Lượng máu nhỏ có thể được thu thập từ đám rối tĩnh mạch mắt, tĩnh mạch tai, tĩnh mạch cổ hoặc từ móng chân bị cắt. Lượng lớn hơn có thể được rút ra từ động mạch đùi, tĩnh mạch đùi hoặc tim (dưới gây mê).
Hamster:
Lượng máu nhỏ có thể được thu thập từ đám rối tĩnh mạch mắt, từ đỉnh đuôi bị cắt cụt (tĩnh mạch đuôi) hoặc từ một miếng đệm chân. Khi thu thập máu từ tĩnh mạch đuôi, xoa bóp đuôi sẽ gây ra sự pha loãng với các dịch mô. Lượng lớn hơn có thể được rút ra từ tim, tĩnh mạch cổ hoặc tĩnh mạch đùi của chuột bị gây mê.
Ngựa:
Khối lượng máu nhỏ có thể được thu thập bằng cách chích tai hoặc đuôi. Khối lượng máu lớn có thể được thu thập từ tĩnh mạch cổ. Số lượng hồng cầu có thể tăng 10 - 15% do lục căng từ sự rút trích tĩnh mạch. Các tế bào dễ dàng tách ra khỏi huyết tương do hình thành các khối cuộn dính (rouleaux), vì vậy các mẫu phải được trộn trước khi đánh giá.Chuột nhắtCó thể thu được một lượng máu nhỏ (30 - 80 µL) từ đám rối tĩnh mạch mắt, từ đầu đuôi bị cắt cụt (tĩnh mạch đuôi) hoặc từ móng chân bị cắt. Khi thu thập máu từ tĩnh mạch đuôi, xoa bóp đuôi sẽ gây ra sự pha loãng với dịch mô. Khối lượng lớn hơn có thể được rút ra từ tĩnh mạch cổ, hoặc tim của một con chuột bị gây mê. Có thể lấy tối đa 0,5 - 0,7 ml máu từ những con chuột khỏe mạnh. Số lượng bạch cầu cao hơn trong máu đuôi. Số lượng hồng cầu lưới cao là phổ biến.
Loài linh trưởng:
Vì sức mạnh và sự khéo léo của chúng, các loài linh trưởng không phải là người nên chúng phải bị kìm kẹp cố định hoặc gây mê để lấy máu. Máu tĩnh mạch có thể được rút ra từ các tĩnh mạch đùi, tay, cổ và saphenous, và máu động mạch có thể được rút ra từ động mạch đùi. Máu có thể được lấy từ tim của một con bị gây mê.
Thỏ:
Tĩnh mạch tai là nơi được lựa chọn để thu thập lượng máu vừa phải. Khối lượng lớn hơn có thể được rút ra từ động mạch tai hoặc tim của thỏ đã gây mê. Tĩnh mạch thỏ mỏng và có xu hướng dễ rách.
Chuột lớn:
Khối lượng máu nhỏ có thể được thu thập từ đám rối tĩnh mạch mắt, từ đầu đuôi bị cắt cụt (tĩnh mạch đuôi) hoặc từ móng chân bị cắt. Khi thu thập máu từ tĩnh mạch đuôi, xoa bóp đuôi sẽ gây ra sự pha loãng với các dịch mô. Khối lượng lớn hơn có thể được rút ra từ tĩnh mạch cổ, hoặc tim của chuột bị gây mê. Số lượng bạch cầu cao hơn trong máu đuôi. Số lượng hồng cầu lưới cao là phổ biến.
Cừu:
Khối lượng máu nhỏ có thể được thu thập bằng cách chích máu tai hoặc đuôi. Khối lượng lớn có thể được thu thập từ tĩnh mạch cổ.
Lợn:
Khối lượng máu nhỏ có thể được thu thập bằng cách chích máu tai hoặc đuôi. Khối lượng lớn có thể được thu thập từ tĩnh mạch cổ.
Chào Tấn, đây là phần nội dung tiếp theo được trích xuất và ghép nối liền mạch từ các hình ảnh tài liệu bạn vừa gửi (từ phần danh sách các chất kháng đông tiếp theo cho đến hết Bảng 3.1 và bắt đầu mục 3.3):
Mẫu máu
-Oxalate (ammonium, kali, lithium, và natri oxalate) tạo thành calci oxalate không hòa tan gây cản trở quá trình đông máu. Các oxalate không được sử dụng cho các nghiên cứu đông máu. Bởi vì chúng ức chế lactate dehydrogenase (LDH). Chúng không thể dùng để đo điện giải và nitơ. Thoái hóa giảm bạch cầu bắt đầu sau khoảng một giờ.
-Kali, natri và lithium oxalate gây ra sự co rút tế bào (6-8%), và ammonium oxalate gây phù tế bào. Oxalate kép của Heller và Paul là hỗn hợp của ammonium và kali oxalate. Hỗn hợp này có thể được sử dụng cho hầu hết các nghiên cứu về huyết học bao gồm hình thái học bởi sự co rút được gây ra bởi một oxalate này sẽ được bù đắp bằng cái khác.
-Citrates (trisodium và lithium citrates) kết hợp với calci citrates dạng muối không hòa tan. Chúng thường được dùng cho các nghiên cứu đông máu và bảo tồn máu để truyền máu. Natri citrat gây co rút tế bào. Lithium citrate thường không được sử dụng ngoại trừ các phép đo khoáng chất trong máu.
-Natri Fluoride / Thymol (10:1) thường không được sử dụng ngoại trừ để ức chế quá trình đường phân (xét nghiệm glucose).
-Dung dịch ACD B (Acid Citrate Dextrose) được sử dụng để bảo quản máu khi truyền máu.
Điều quan trọng là sử dụng thuốc chống đông máu thích hợp để ngăn ngừa sự ảnh hưởng của hóa chất. Các ống thu thập máu được mã hóa màu theo các chất phụ gia mà chúng chứa. Mỗi phòng thí nghiệm sẽ lựa chọn ống phù hợp.
3.1.1 Lấy mẫu huyết học
Khi lấy máu cho các nghiên cứu về huyết học, nên tránh tán huyết và đông máu. Thuốc chống đông máu được ưa thích là kali EDTA vì nó ít ảnh hưởng đến hình thái tế bào nhất và nó bảo tồn tiểu cầu. Phết máu để đếm công thức bạch cầu nên được thực hiện ngay lập tức khi máu vừa được thu thập, mặc dù máu có chứa EDTA có thể được sử dụng trong vòng 15 phút. Nếu máu không được chạy kiểm tra ngay lập tức, thì nên bảo quản lạnh ở nhiệt độ 4 ° C. Lưu trữ máu có thể dẫn đến giảm số lượng bạch cầu và tiểu cầu cũng như tạo ảnh ảo trong hình thái hồng cầu và bạch cầu. Mẫu hemoglobin huyết tương phải được ly tâm ngay lập tức và loại bỏ huyết tương trước khi làm lạnh. Các phép đo dung tích hồng cầu (HCT) được thực hiện với một ống thủy tinh nhỏ chuyên dụng để đo lượng HCT được lấy trong các ống mao dẫn chứa heparin.
Vì máu thường được rút trích cùng lúc để kiểm tra chỉ số sinh lý và sinh hóa, nên động vật thường được nhịn ăn; nhưng nhịn ăn là không cần thiết cho các mẫu sinh lý máu. Nên cung cấp đủ nước uống cho con vật, sẽ không có tác động đáng kể nào xảy ra đối với các thông số huyết học. Máu nên được lấy từ cùng một vị trí, và vào cùng một thời điểm trong ngày trong suốt quá trình lấy mẫu. Điều này rất cần thiết ở loài gặm nhấm vì số lượng bạch cầu của chúng tăng lên do tác động của sinh học và vị trí lấy mẫu. Số lượng tế bào ở tất cả các loài khác nhau tùy thuộc vào vị trí lấy mẫu. Điều quan trọng là tránh cho con vật bị phấn khích trong khi trích máu vì nó dẫn đến sự giải phóng corticosteroid, co thắt lách và tăng giải phóng các tế bào bổ sung vào máu.
Tủy xương có thể được trích hút từ động vật sống bằng kim, tủy xương cũng có thể được thu thập trong vòng vài giờ sau khi chết. Trích hút tủy thường được lấy từ xương đùi của loài gặm nhấm bằng cách mở hai đầu đối diện của xương đùi hoặc xương ức và rửa sạch tủy bằng nước muối sinh lý. Tủy chó được lấy từ mào chậu, xương sườn, xương ức hoặc gần xương cánh tay. Nó không được thu thập từ xương đùi vì tủy gần như được thay thế bằng chất béo ở chó trưởng thành. Tủy cũng có thể được thu thập bằng bàn chải lông. Tủy thường được trộn với nước muối sinh lý và EDTA. Tủy xương được phết lên phiến kính và để khô để đánh giá dưới kính hiển vi. Tủy cũng có thể được chuẩn bị để đếm tế bào dòng chảy, đánh giá mô bệnh học hoặc nuôi cấy trong phòng thí nghiệm.
3.1.2 Lấy mẫu hóa học lâm sàng
Máu động mạch được sử dụng để xác định khí máu ($pCO_2$ và $pO_2$) và không được chứa bọt khí. Máu tĩnh mạch thường được sử dụng cho tất cả các phép đo hóa học lâm sàng khác vì nó dễ lấy và an toàn hơn. Hóa học của máu động mạch và tĩnh mạch gần như giống hệt chỉ có khí máu là ngoại lệ. Huyết thanh được sử dụng cho hầu hết các phép đo hóa học vì nó không chứa chất chống đông máu có thể làm loãng hoặc tương tác với thành phần được đo.
Lithium heparin được sử dụng như một chất chống đông máu khi kiểm tra các thành phần huyết tương như sợi tơ huyết. Tuy nhiên, thuốc chống đông máu không được sử dụng cho hầu hết các xét nghiệm. Máu để cho đông lại và sau đó mang đi ly tâm rồi tách huyết thanh nổi trên bề mặt để phân tích. Huyết thanh nên được bảo vệ khỏi ánh sáng, được xử lý bằng chất bảo quản hoặc làm lạnh khi cần thiết. Ví dụ:
Glucose trải qua quá trình đường phân trừ khi nó được làm lạnh và xử lý bằng fluoride (một chất ức chế enzyme).
Enzyme (ngoại trừ lactate dehydrogenase), nitơ urê máu, creatinine và acid uric thì không ổn định, vì vậy chúng cần được đánh giá ngay lập tức hoặc các mẫu được bảo quản ở nhiệt độ lạnh / đông lạnh.
Bilirubin bị phá vỡ bởi ánh sáng mạnh, vì vậy máu nên được giữ trong bóng tối.
Động vật nên được nhịn ăn trong vài giờ. Đối với các loài nhỏ, một đêm nhịn ăn tương tự như bị chết đói vì tốc độ trao đổi chất nhanh chóng của chúng. Nước nên có sẵn trong thời gian nhịn ăn. Nhịn ăn ngăn ngừa lipid máu, có thể ảnh hưởng đến một số xét nghiệm. Các động vật được xét nghiệm định kỳ trong một nghiên cứu dài hạn nên được lấy máu vào cùng khoảng thời gian trong ngày để ngăn ngừa các phản ứng sinh học. Ngoài ra các nguyên nhân dẫn đến sự căng thẳng nên được giảm thiểu vì chúng có thể có tác động đáng kể đến sinh hóa máu.
3.2 Vị trí lấy máu
Việc lấy máu đòi hỏi một trình độ chuyên môn nhất định để thu thập được mẫu không bị tạp nhiễm. Khi lấy máu từ động vật nhỏ, chỉ lấy một lượng nhỏ để tránh tác dụng phụ cho con vật (ví dụ: thiếu máu) và nghiên cứu độc tính. Ví dụ, mất 20% máu khi 0,5 ml máu được rút ra từ một con chuột 20 g. Bảng 3.1 liệt kê các vị trí lấy máu phổ biến từ nhiều loài khác nhau, cũng như các biến chứng có thể xảy ra:
Bảng 3.1 Các vị trí lấy máu phổ biến.
| Loài | Vị trí và ghi chú |
| Chim | Có thể thu được một lượng máu nhỏ bằng cách cắt móng chân (gây ra sự giải phóng thromboplastin mô), làm thủng mào hoặc cắt một ít đỉnh mào. Lượng lớn máu có thể được trích từ các xương cánh tay, da ở xương trụ, tĩnh mạch cổ phải và tĩnh mạch giữa mu bàn chân. Khối máu tụ sau lấy mẫu là phổ biến. |
| Mèo | Có thể lấy một lượng lớn máu từ tĩnh mạch cổ, tĩnh mạch tay, đùi và tĩnh mạch hiển bên (saphenous vein), hoặc từ tim nếu mèo được gây mê toàn phần. Có thể lấy máu động mạch ở động mạch đùi. Sự kích thích quá độ dẫn đến co thắt lách gây nên tăng số lượng hồng cầu, dung tích hồng cầu, huyết sắc tố và huyết khối cầu. Sự sợ hãi và tăng trương lực cơ dẫn đến tăng bạch cầu trung tính và bạch cầu lympho. |
| Gia súc | Lượng máu nhỏ có thể được lấy bằng cách chích máu tai hoặc đuôi. Lượng lớn máu có thể được lấy từ tĩnh mạch cổ. |
| Chó | Máu có thể được rút ra với một lượng lớn từ các tĩnh mạch cổ, tay, xương đùi và tĩnh mạch hiển bên, hoặc từ tim của một con chó bị gây mê. Máu động mạch có thể được rút ra từ động mạch đùi. Kích thích quá độ hoặc vận động quá sức gây ra tăng bạch cầu trung tính. Sự sợ hãi và tăng trương lực cơ gây ra sự gia tăng các tế bào lympho và hồng cầu. Sợ hãi trong quá trình lấy mẫu có thể gây ra co thắt lách dẫn đến tăng hồng cầu, HCT và huyết sắc tố. |
| Chồn | Lượng máu nhỏ có thể được lấy từ tĩnh mạch đuôi hoặc bằng cách cắt móng chân. Lượng máu lớn hơn có thể được rút ra từ các tĩnh mạch cổ, tĩnh mạch tay hoặc tim của một con chồn bị gây mê. |
| Chuột nhảy | Lượng máu nhỏ có thể được thu thập bằng cách cắt móng chân. Lượng lớn hơn có thể được rút ra từ tim của một con chuột bị gây mê, hoặc đám rối tĩnh mạch mắt. |
| Dê | Có thể thu được một lượng máu nhỏ bằng cách chích máu tai hoặc đuôi. Khối lượng lớn có thể được thu thập từ tĩnh mạch cổ. |
| Chuột lang | Lượng máu nhỏ có thể được thu thập từ đám rối tĩnh mạch mắt, tĩnh mạch tai, tĩnh mạch cổ hoặc từ móng chân bị cắt. Lượng lớn hơn có thể được rút ra từ động mạch đùi, tĩnh mạch đùi hoặc tim (dưới gây mê). |
| Hamster | Lượng máu nhỏ có thể được thu thập từ đám rối tĩnh mạch mắt, từ đỉnh đuôi bị cắt cụt (tĩnh mạch đuôi) hoặc từ một miếng đệm chân. Khi thu thập máu từ tĩnh mạch đuôi, xoa bóp đuôi sẽ gây ra sự pha loãng với các dịch mô. Lượng lớn hơn có thể được rút ra từ tim, tĩnh mạch cổ hoặc tĩnh mạch đùi của chuột bị gây mê. |
| Ngựa | Khối lượng máu nhỏ có thể được thu thập bằng cách chích tai hoặc đuôi. Khối lượng máu lớn có thể được thu thập từ tĩnh mạch cổ. Số lượng hồng cầu có thể tăng 10 - 15% do lục căng từ sự rút trích tĩnh mạch. Các tế bào dễ dàng tách ra khỏi huyết tương do hình thành các khối cuộn dính (rouleaux), vì vậy các mẫu phải được trộn trước khi đánh giá. |
| Chuột nhắt | Có thể thu được một lượng máu nhỏ (30 - 80 µL) từ đám rối tĩnh mạch mắt, từ đầu đuôi bị cắt cụt (tĩnh mạch đuôi) hoặc từ móng chân bị cắt. Khi thu thập máu từ tĩnh mạch đuôi, xoa bóp đuôi sẽ gây ra sự pha loãng với dịch mô. Khối lượng lớn hơn có thể được rút ra từ tĩnh mạch cổ, hoặc tim của một con chuột bị gây mê. Có thể lấy tối đa 0,5 - 0,7 ml máu từ những con chuột khỏe mạnh. Số lượng bạch cầu cao hơn trong máu đuôi. Số lượng hồng cầu lưới cao là phổ biến. |
| Loài linh trưởng | Vì sức mạnh và sự khéo léo của chúng, các loài linh trưởng không phải là người nên chúng phải bị kìm kẹp cố định hoặc gây mê để lấy máu. Máu tĩnh mạch có thể được rút ra từ các tĩnh mạch đùi, tay, cổ và saphenous, và máu động mạch có thể được rút ra từ động mạch đùi. Máu có thể được lấy từ tim của một con bị gây mê. |
| Thỏ | Tĩnh mạch tai là nơi được lựa chọn để thu thập lượng máu vừa phải. Khối lượng lớn hơn có thể được rút ra từ động mạch tai hoặc tim của thỏ đã gây mê. Tĩnh mạch thỏ mỏng và có xu hướng dễ rách. |
| Chuột lớn | Khối lượng máu nhỏ có thể được thu thập từ đám rối tĩnh mạch mắt, từ đầu đuôi bị cắt cụt (tĩnh mạch đuôi) hoặc từ móng chân bị cắt. Khi thu thập máu từ tĩnh mạch đuôi, xoa bóp đuôi sẽ gây ra sự pha loãng với các dịch mô. Khối lượng lớn hơn có thể được rút ra từ tĩnh mạch cổ, hoặc tim của chuột bị gây mê. Số lượng bạch cầu cao hơn trong máu đuôi. Số lượng hồng cầu lưới cao là phổ biến. |
| Cừu | Khối lượng máu nhỏ có thể được thu thập bằng cách chích máu tai hoặc đuôi. Khối lượng lớn có thể được thu thập từ tĩnh mạch cổ. |
| Lợn | Khối lượng máu nhỏ có thể được thu thập bằng cách chích máu tai hoặc đuôi. Khối lượng lớn có thể được thu thập từ tĩnh mạch cổ. |
3.3 Lấy mẫu nước tiểu
Nước tiểu động vật có thể được thu thập theo bốn cách:
Tại chuồng nuôi: Đây thường là phương pháp tốt nhất để thu thập nhiều mẫu nước tiểu và chẩn đoán đa niệu.
2. Mẫu dòng chảy tự do: Mẫu nước tiểu chảy tự do, tốt nhất là giữa dòng, có thể được thu thập từ động vật lớn. Tạp nhiễm phân có thể ảnh hưởng đến phân tích.
3. Thông tiểu lấy mẫu: Quy trình này dễ bị nhiễm bẩn từ máu, mô, chất khử trùng và chất bôi trơn.
4. Chọc hút nước tiểu: Điều này liên quan đến việc rút nước tiểu vào ống tiêm thông qua một cây kim chọc xuyên thành bụng vào bàng quang. Thủ tục này dễ bị tạp nhiễm máu hoặc mô.
Nước tiểu đọng sẽ trở nên đục (do kết tủa muối), mất bilirubin (thông qua quá trình oxy hóa - hoạt hóa nhẹ) và trở thành cơ bản (mất $CO_2$ và sản xuất amoniac bởi vi khuẩn). Vì các enzyme trong nước tiểu không ổn định, các mẫu không thể được đánh giá ngay lập tức thường được làm lạnh ($4^{\circ}C$) trong vài giờ. Chất bảo quản có thể gây ra hiệu ứng pha loãng và thường không cần thiết ngoại trừ trong quá trình vận chuyển. Hóa chất kiểm soát sự phát triển của vi khuẩn có thể gây trở ngại cho phân tích. Acid hóa có thể hòa tan hoặc tạo thành tinh thể. Vì không có cách lý tưởng để bảo quản nước tiểu, nên các phương tiện được sử dụng được quyết định bởi các đánh giá cần thiết:
Làm lạnh - Các mẫu có thể được sử dụng trong vài giờ, đặc biệt nếu nước tiểu có tính acid. Nước tiểu lạnh phải được làm ấm đến nhiệt độ phòng trước khi phân tích.
Đóng băng - Đóng băng làm chậm sự phát triển của vi khuẩn và phân hủy các chất chuyển hóa và bảo quản nước tiểu trong ít nhất 10 tuần. Sự đóng băng và tan băng của nước tiểu làm giảm enzyme và protein. Nó cản trở kiểm tra cặn lắng vì nó làm hỏng các tế bào và phôi. Đông lạnh được khuyến nghị để đo natri, kali, clorua, calci, magiê và phốt phát; nhưng không được khuyến cáo để đo epinephrine, norepinephrine, hydroxyproline, hormone chống bài niệu, creatinine và nitơ urê. Nước tiểu phải được làm ấm đến nhiệt độ phòng cho hầu hết các phân tích.
Acid hóa - Nước tiểu có thể được acid hóa bằng cách thêm HCl 0.1N. Các tế bào, phôi, và một số thành phần khác có thể được bảo quản trong vài giờ trong nước tiểu có tính acid. Các tinh thể có xu hướng hình thành trong nước tiểu có tính acid, nhưng các tinh thể được tìm thấy trong nước tiểu kiềm có thể hòa tan một khi chúng bị acid hóa.
Acid ascorbic - Acid ascorbic ngăn chặn quá trình oxy hóa bilirubin. Nó không thích hợp cho các phép đo glucose sử dụng oxi hóa glucose.
Formaldehyd - Nước tiểu được bảo quản bằng formaldehyd phù hợp để đánh giá các tế bào, phôi và sự phát triển của vi sinh vật. Nó không thích hợp cho các phép đo glucose sử dụng oxi hóa glucose.
Thymol - Thymol là một chất bảo quản kháng khuẩn tuyệt vời, nhưng có thể mang lại kết quả dương tính giả cho protein.
Toluene - Toluene có thể ngăn chặn sự phát triển của vi sinh vật. Vì nó là dung môi, nên phải cẩn thận trong việc lựa chọn các thùng chứa và lưu trữ.
Cloroform - Cloroform có thể ngăn chặn sự phát triển của vi sinh vật và có thể bảo quản nước tiểu trong khoảng 24 giờ.
Acid Boric - Acid Boric có tính kháng khuẩn tốt.
Acid Metaphosphoric (HPO 3) - Acid metaphosphoric có thể bảo quản vitaminC.
Tham khảo thêm những bài viết hay tại nongtraithucung.com



