Phần 1
Bệnh lý học
Triệu chứng Chó bệnh có dấu hiệu trong 3-10 ngày. Các dấu hiệu có thể bao gồm hôn mê, nôn mửa, sốt và tiêu chảy (thường có máu). Nói chung, dấu hiệu đầu tiên của CPV-2 là thờ ơ, các dấu hiệu phụ là sụt cân và tiêu chảy, sau đó là nôn mửa. Nhiễm trùng thứ phát xảy ra do hệ thống miễn dịch suy yếu. Chó có mùi đặc biệt trong giai đoạn sau của bệnh nhiễm trùng (Greene and Decaro, 2012). Chó càng nhỏ tuổi tỷ lệ sống sót càng kém (Ettinger et al., 1995). Các triệu chứng có thể quan sát trên từng hệ thống gồm:
Viêm ruột: Viêm ruột có thể tiến triển nhanh chóng, đặc biệt là với các chủng mới của CPV-2 (a, b, c). Chó nôn mửa nghiêm trọng và sau đó là tiêu chảy, chán ăn và mất nước nhanh chóng. Phân vàng xám và có vệt máu hoặc sẫm màu. Sốt cao (40 - 41 độ C) và giảm bạch cầu có thể xảy ra. Trong những trường hợp nặng, chó có thể bị lồng ruột, một phần của ruột bị sa sang phần khác (Jeoung et al., 2008). Tử vong có thể xảy ra sớm nhất là 2 ngày sau khi bắt đầu, bệnh thường gây chết hơn nếu vật chủ đồng thời bị nhiễm giun hoặc các ký sinh trùng đường ruột khác (Ettinger et al., 1995).
Biểu hiện thần kinh: Bệnh thần kinh nguyên phát có thể do xuất huyết hệ thần kinh trung ương, hạ đường huyết, nhiễm trùng huyết hoặc rối loạn điện giải gây thiểu sản tiểu não (tiểu não phát triển không đầy đủ hoặc có hoạt động chức năng bị suy giảm). Chó con biểu hiện run rẩy toàn thân và dáng đi không đối xứng. Loại nhiễm trùng này có thể xảy ra khi con chó mang thai bị nhiễm CPV-2, virus đã đi qua nhau thai để lây nhiễm sang thai, chó con sinh ra với các bất thường về thần kinh (Schatzberg et al., 2002).
Tổn thương da: Tổn thương da bao gồm loét bàn chân, mô bàn chân, niêm mạc miệng và âm đạo. Mụn nước trong khoang miệng và các mảng ban đỏ trên bụng và da quanh âm hộ cũng hiện diện (Evermann et al., 2005).
Viêm cơ tim: Viêm cơ tim có thể do nhiễm CPV-2 trong tử cung hoặc ở chó con dưới 6 tuần tuổi. Chó con viêm cơ tim thường chết sau một thời gian ngắn bị khó thở, kêu la và nôn ói (Greene and Decaro, 2012). Dấu hiệu rối loạn chức năng tim có thể xảy ra trước dạng bệnh đường ruột hoặc có thể xảy ra đột ngột không có bệnh trước đó rõ ràng. Tuy nhiên, nhiễm trùng CPV-2 không phải là nguyên nhân phổ biến của bệnh tim.
Nhiễm trùng tiết niệu: Nhiễm trùng đường tiết niệu không triệu chứng đã được phát hiện ở khoảng 25% chó con sau khi bị viêm ruột (Kang et al., 2007). Khuynh hướng này được cho là cơ quan sinh dục ngoài bị nhiễm phân kết hợp với giảm bạch cầu trung tính. Nhiễm trùng đường tiết niệu có thể dẫn đến nhiễm trùng tiểu mãn tính.
Bệnh tích
Bệnh tích đại thể: Tổn thương sớm rõ rệt nhất ở đoạn tá tràng; sau đó là hỗng tràng bị viêm nhiễm nặng hơn. Thành ruột dày lên và đổi màu từng đoạn, bề mặt thanh mạc thô nhám; trong lòng ống có sự bóc mòn niêm mạc ruột và sự hiện diện của màu sẫm, đôi khi có máu, chất lỏng trong dạ dày và ruột. Ở mức độ nhẹ không dễ phân biệt với viêm ruột không đặc hiệu. Các hạch bạch huyết ở ngực hoặc bụng sưng và phù nề. Phù phổi hoặc viêm phế nang do biến chứng nhiễm trùng huyết. Tim có những vệt nhạt màu do viêm cơ tim (Greene and Decaro, 2012).
Bệnh tích vi thể: Hoại tử biểu mô hẻm tuyến ở ruột non. Thể vùi nội nhân được nhìn thấy trong các tế bào biểu mô này và biểu mô vảy của đường tiêu hóa trên. Các thay đổi bệnh lý từ viêm nhẹ đến viêm ruột xuất huyết. Các nhung mao ngắn hoặc mất dẫn đến sự sụp đổ của lớp đệm. Hoại tử và suy giảm mô bạch huyết mảng Peyer, bạch huyết màng treo ruột, tuyến ức và lá lách (Siedek et al., 2007). Viêm cơ tim với sự xâm nhập của tế bào lympho và tế bào huyết tương trong cơ tim. Thể vùi nội nhân ưa bazơ quan sát thấy trong các sợi cơ tim và các hạt virus trong các thể vùi.
Miễn dịch
Chó khỏi bệnh miễn dịch trong ít nhất 20 tháng và có thể suốt đời. Hiệu giá kháng thể trong huyết thanh vẫn cao trong một thời gian dài sau bệnh. Nếu hiệu giá kháng thể huyết thanh thấp hơn ngưỡng bảo hộ, có thể xảy ra nhiễm trùng cục bộ nhưng virus huyết và bệnh toàn thân không có khả năng phát triển. IgA ở ruột có thể không đóng một vai trò trong việc kéo dài miễn dịch bảo vệ vì hiệu giá kháng thể có nguồn gốc từ ruột không tồn tại lâu hơn 15 ngày sau khi nhiễm bệnh (Greene and Decaro, 2012).
Chẩn đoán
Chẩn đoán lâm sàngSự xuất hiện đột ngột của tiêu chảy có mùi hôi, có máu ở chó non (dưới 1 tuổi) thường được coi là dấu hiệu của nhiễm trùng CPV-2. Tuy nhiên, không phải tất cả những con chó bị tiêu chảy ra máu, nôn mửa là do CPV-2 gây ra vì các bệnh do ký sinh trùng hoặc vi khuẩn gây bệnh đường ruột, virus đường ruột khác cũng có thể gây bệnh đơn lẻ hoặc kết hợp gây các dấu hiệu lâm sàng tương tự. Ngoài ra, tất cả các dấu hiệu lâm sàng đặc trưng của nhiễm trùng CPV-2 hiếm khi có mặt cùng một lúc.
Chẩn đoán phòng thí nghiệm
Phân tích huyết học: Giảm bạch cầu thường tỷ lệ thuận với mức độ nghiêm trọng của bệnh và tại thời điểm lấy máu. Theo dõi thay đổi bạch cầu có thể tiên lượng về khả năng nhiễm trùng. Chó con chết vì căn bệnh này thường có tổng số bạch cầu bằng hoặc ít hơn 1030 tế bào/mu L và giảm bạch cầu lympho dai dẳng trong vòng 3 ngày đầu tiên.
Đông máu bất thường bao gồm thời gian huyết khối kéo dài, biên độ huyết đồ tăng và hoạt tính của antithrombin III giảm. Cholesterol tăng tỷ lệ thuận với mức độ nghiêm trọng của bệnh. Tương tự, nồng độ cortisol huyết thanh cao và nồng độ thyroxine huyết thanh thấp trong 24 - 48 giờ sau khi biểu hiện bệnh lâm sàng có liên quan đến tỷ lệ chết ở chó. Troponin I tim (một thành phần của bộ máy co bóp trong các tế bào cơ xương và tim) đã được sử dụng để phát hiện tổn thương tim sau chấn thương hoặc các bệnh truyền nhiễm ở chó. Chó từ 6 tháng đến 4 tuổi bệnh có troponin I tim không cao, cho thấy tổn thương cơ tim chỉ giới hạn ở chó con còn rất nhỏ.
Huyết thanh học: Phương pháp ELISA xét nghiệm kháng nguyên CPV-2 sử dụng khá phổ biến để xét nghiệm mẫu phân. Mặc dù xét nghiệm ELISA khá chính xác phổ biến khi nó có thể tạo ra kết quả dương tính giả hoặc âm tính giả, tuy nhiên do thời gian phát triển của virus trong phân thường ngắn và sự bài xuất virus có thể không liên tục, hiếm khi phát hiện được các chủng CPV-2 trong phân bằng ELISA sau hơn 10 ngày nhiễm. Do đó, kết quả âm tính sau loại trừ khả năng chó nhiễm CPV-2, kháng thể IgA xuất hiện sớm trong lòng ruột có thể ức chế CPV-2 từ đó ngăn cản sự liên kết tiếp theo với kháng thể đơn dòng được sử dụng trong kit ELISA.
Thử nghiệm ngưng kết trên phiến kính (slide agglutination test) sử dụng hồng cầu heo, cũng đã được phát triển để phát hiện CPV-2 trong các mẫu phân và ruột, nhưng nó chỉ nhạy hơn một chút so với ELISA và kém đặc hiệu đối với sự hiện diện của ngưng kết tố đồng loại có thể có trong màu phân hoặc sự hiện diện của các virus gây ngưng kết hồng cầu khác, chủ yếu là Reovirus. Sự hiện diện của hiệu giá ức chế đông máu (HI) cao trong mẫu huyết thanh chó chưa được tiêm phòng bị bệnh lâm sàng từ 3 ngày trở lên được chẩn đoán là nhiễm CPV-2.
Phát hiện mầm bệnh CPV-2 thường tạo ra các tổn thương ở hổng tràng, hồi tràng, hạch bạch huyết màng treo và các mô bạch huyết khác cho nên có thể được phân lập CPV-2 từ các mô này (hoặc phân nếu được thực hiện sớm) bằng hệ thống nuôi cấy mô. Trong hầu hết các mô, các thể vùi trong nhân được quan sát thấy. Các phương pháp hóa miễn dịch cũng có thể được sử dụng để phát hiện virus trong nuôi cấy mô. Phương pháp PCR là một phương tiện có độ đặc hiệu cao để phát hiện CPV-2 trong phân của những con chó bệnh. Trong khi các phương pháp phân lập virus và hóa miễn dịch thường phát hiện virus trong phân khi nhiễm bệnh dưới 10 ngày, thì kết quả PCR đối với CPV-2c đã đạt đỉnh ở 10 ngày và vẫn dương tính trong thời gian 54 ngày, mặc dù ở mức thấp hơn. PCR cũng phát hiện virus vắcxin trong máu và phân ít nhất 2 tuần sau khi tiêm chủng. Ngoài ra, Realtime-PCR sử dụng đầu dò huỳnh quang đặc hiệu còn có thể phân biệt CPV-2 đang lưu hành trong khu vực với chủng virus vắcxin.
Phòng trị bệnh
Điều trịĐiều trị triệu chứng là phục hồi tình trạng mất nước, cân bằng điện giải và ngăn ngừa nhiễm khuẩn thứ phát. Liệu pháp bù nước là quan trọng nhất cần được tiếp tục khi nôn mửa hoặc tiêu chảy vẫn còn.
Thuốc can thiệp khi chó bệnh (Greene and Decaro, 2012)
| Thuốc | Liều (mg/kg) | Đường cấp | Thời gian (giờ) | Kéo dài (ngày) |
| Chống nôn ói | ||||
| Chlorpromazine | 0.5 | IM | 8 | Nếu cần |
| Metoclopramide | 0.2-0.4 | SC | 8 | Nếu cần |
| Prochlorperazine | 0.1 | IM | 6-8 | Nếu cần |
| Ondansetron | 0.1-0.15 | IV | 6-12 | Nếu cần |
| Dolasetron | 1 | IV, PO | 24 | Nếu cần |
| Kháng sinh | ||||
| Ampicillin | 10-20 | IV, IM, SC | 6-8 | 3-5 |
| Cefazolin | 22 | IV, IM | 8 | 3-5 |
| Ceftiofur | 2.2-4.4 | SC | 12 | 3-5 |
| Gentamicin | 6-8 | IM, SC, IV | 24 | 3-5 |
| Interferon-ω | 2.5 *10^6 UI/kg | IV | 24 | 3 |
| Bảo vệ dạ dày | ||||
| Cimetidine | 5-10 | IM, IV | 6-8 | Nếu cần |
| Ranitidine | 2-4 | SC, IV | 6-8 | Nếu cần |
| Kháng viêm | ||||
| Dexamethasone | 2-4 | IV | Một lần | |
| Flunixin meglumine | 1 | IV | Một lần |
Kháng sinh: Các kháng sinh được khuyến nghị sử dụng để ngăn vi khuẩn xâm nhập vào máu ngoại vi, giảm bạch cầu trung tính làm tăng nguy cơ nhiễm trùng huyết. Vi khuẩn bội nhiễm phổ biến nhất là E. coli và C. perfringens cho nên kháng sinh tốt nhất là kết hợp penicillin và aminoglycoside. Cephalosporin, quinolone có thể được sử dụng như những lựa chọn thay thế để đạt được phổ mong muốn.
Chống nôn: Thuốc chống nôn rất hữu ích để làm giảm tình trạng mất nước và giảm tình trạng đau đớn và cho phép cung cấp dinh dưỡng qua đường ruột. Metoclopramide hydrochloride và Prochlorperazine đã tỏ ra hữu ích ở những con chó bị nôn liên tục. Thuốc đối kháng thụ thể serotonin đã được khuyến cáo là thuốc chống nôn hiệu quả nhất. Ondansetron và Dolasetron đều đã được sử dụng trên chó. Điều trị bằng thuốc để thay đổi nhu động ruột hiếm khi được khuyến cáo trong điều trị viêm ruột CPV-2.
Dinh dưỡng và Huyết thanh: Khi chó bệnh nên được cung cấp chất dinh dưỡng vào ngày đầu tiên điều trị được rút ngắn và chó duy trì điều tốt hơn so với những con chó được điều trị theo phương pháp thông thường là không cho ăn đến khi các dấu hiệu hết trong 12 giờ. Trong giai đoạn đầu của bệnh, liệu pháp bổ trợ bao gồm truyền huyết thanh miễn dịch đặc hiệu, huyết thanh kháng độc tố. Các phương pháp này làm giảm tỷ lệ tử vong nhưng tốn kém. Điều trị bằng IFN- 6 tiêm tĩnh mạch liều 2.5 x 10^6 UI /kg, bắt đầu sớm (dưới 4 ngày nhiễm bệnh) có hiệu quả làm giảm tỉ lệ chết. Glucocorticoid và Flunixin meglumine cũng hữu ích trong điều trị nhiễm trùng huyết nhưng không nên sử dụng những thuốc này đến khi tình trạng mất nước được khắc phục và không nên dùng liều lặp lại.
Chăm sóc quản lý
Chó con rất dễ bị nhiễm trùng, đặc biệt là do hệ miễn dịch tự nhiên được cung cấp trong sữa mẹ có thể bị mất đi trước khi hệ miễn dịch của chó con đủ trưởng thành để chống lại nhiễm trùng. Khoảng thời gian phát tán của virus lây nhiễm rất ngắn (dưới 5 ngày sau khi phát bệnh) và virus có trong phân của những con chó được phục hồi trong nhiều tuần cho nên kiểm soát môi trường là trọng tâm trong việc ngăn chặn lây lan. Cho đến khi một chó con đã được tiêm phòng đầy đủ, nên thận trọng khi đưa chó đến những nơi tập trung đông đúc chó con như cửa hàng thú cưng, cơ sở chải lông...
Không để chó tiếp xúc với phân của những con chó khác khi dạo chơi ngoài trời. Những con chó chưa được tiêm phòng không nên tiếp xúc với những con chó bị bệnh hoặc những con có tiền sử tiêm phòng không rõ ràng.
(Hình ảnh minh họa chu trình lây nhiễm):
Chó mang mầm bệnh thải virus qua phân.
Môi trường nhiễm bệnh.
Động vật khỏe tiếp xúc mầm bệnh.
Virus nhân lên ở ruột non và hạch lympho -> Triệu chứng (Viêm ruột xuất huyết, Viêm cơ tim, Giảm bạch cầu).
Phòng bệnh
Tiêm phòng Chó được tiêm vắcxin đủ liều (loạt tiêm 3 lần) có khả năng miễn dịch bảo vệ trong thời gian 15 tháng. Chó con chưa rõ tình trạng miễn dịch có thể được chủng ngừa bằng vắcxin CPV-2 sống khi được 6, 9 và 12 tuần tuổi và sau đó tái chủng nếu nguy cơ phơi nhiễm là cao. Trong trường hợp không có kháng thể mẹ truyền, kháng thể trong huyết thanh thường có thể phát hiện được sau 3 ngày tiêm chủng, sau đó tăng nhanh, hiệu giá kháng thể bảo vệ có thể tồn tại ít nhất 2 năm.
Kiểm tra mức độ kháng thể trong huyết thanh có thể được thực hiện sau khi tiêm loạt vắcxin để xác định sự chuyển đổi huyết thanh thích hợp, hoặc lần tiêm phòng cuối cùng trong quy trình tiêm phòng nên được thực hiện không sớm hơn 16 tuần tuổi, đặc biệt là ở những giống có nguy cơ mắc bệnh cao như Rottweiler, Doberman Pinscher và English Springer Spaniel, German Shepherds, American Pit Bull Terriers. Chó con 16 tuần tuổi trở lên được tiêm 3 mũi vắcxin cách nhau 3 - 4 tuần (Nelson et al., 1998).
Tham khảo thêm những bài viết hay tại nongtraithucung.com



